Tưởng dịch từ chữ
Pali là Sanna, Tây Âu dịch là Perception, tương đương với tiếng Việt là tri giác,
nhưng đôi khi có ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả tâm thức, như khi ta nói cõi VÔ TƯỞNG
là cõi không có tâm thức ; hay cõi PHI TƯỞNG, PHI PHI TƯỞNG, là cõi không có,
nhưng không hẳn là không có tâm thức.
1- Về Bản chất, Tưởng
là:
- 1 tâm sở trong
52 tâm sở, thuộc loại biến hành, nghĩa là có mặt trong tất cả các loại tâm.
- 1 trong 5 uẩn (sắc,
thọ, TƯỞNG, hành, thức).
2- Về Ý nghĩa Tưởng
là một chức năng quan trọng bao gồm sự nhận biết, hình dung, diễn dịch
(interprêter) một hình ảnh, âm thanh, mùi vị, cảm giác xúc chạm hay một biểu tượng
đã được chép nhớ từ trước. Chẳng hạn khi nhìn một đóa hoa chúng ta biết ngay nó
là hoa Hồng mà không phải là loại hoa nào khác. Khi nghe tiếng chíu chít chúng
ta biết là tiếng chim, chớ không phải là tiếng chó sủa. Đây là một quá trình
chuyển đổi một rung động của giác quan thành ý nghĩa. Đôi khi nó cũng có ý
nghĩa là suy tưởng, quán tưởng trong một vài Pháp thiền.
3- Phân loại
- Theo các căn thì
ta có 6 tưởng : Sắc- Thinh- Hương- Vị- Xúc- Pháp Tưởng.
- Theo tạng Kinh
(Kinh « Đáng được ăn », T. Ư 3):
* Tưởng QUÁ KHỨ, VỊ
LAI, HIỆN TẠI: Tưởng quá khứ: nhớ tưởng, hồi tưởng.
-Tưởng Vị lai: tưởng
tượng.
-Tưởng Hiện tại :
là tri giác.
* Tưởng NỘI và NGỌAI:
- Tưởng Nội: là nhận
diện, hình dung, diễn dịch một hình ảnh hay biểu tượng bên trong tâm.
- Tưởng Ngoại: là
nhận diện, hình dung hay diễn dịch một dữ kiện đến từ thế giới bên ngoài qua 5
giác quan.
Theo khoa học về
nhận thức, sự nhận diện hay diễn dịch những dữ kiện của giác quan đòi hỏi phải
có hai cách xử lý:
1- một từ bên
ngoài vào (traitement « dirigé » par les données)
2- một từ bên
trong ra bằng những ý niệm hay biểu tượng (traitement « dirigé » par les
concepts ou représentations)
* Tưởng THÔ hay TẾ :
-Thô : những hình ảnh
hoặc âm thanh lớn, nhỏ.
-Tế : biểu tượng ngôn ngữ (sémantique)
* Tưởng LIỆT hay
THẮNG :
-Liệt: tà tưởng là
một sự diễn dịch không phù hợp với thực tại khách quan đã được qui định và thừa
nhận bởi đa số, chẳng hạn trông gà hóa quốc : con gà là con gà, không phải con
quốc.
-Thắng : chánh tưởng,
tri giác đúng.
* Tưởng XA hay GẦN
: tuỳ theo đối với thời gian hiện tại hay không gian ở đây.
4- Biện giải
Nguyên nhân sinh
ra tưởng là Pháp trần, là tất cả những đối tượng của tâm đến từ thế giới bên
ngoài qua 5 cửa giác quan và những đối tượng đến từ thế giới bên trong qua cửa ý.
Chúng ta thử lấy
ví dụ một hình ảnh (nhãn trần) được đưa vào võng mạc (rétine) làm kích thích
125 triệu tế bào hình trụ (bâtonnet) và hình chóp (cone),những tế bào nầy hoán
chuyển những phản ứng quang hoá (photochimique) thành tín hiệu (signal) và truyền
gởi lên não bộ nhờ 1,6 triệu sợi thần kinh, hợp thành dây thần kinh thị giác.
Lên tới những trung khu não bộ chuyên về thị giác ở thuỳ Chẩm (cortex visuel du
lobe occipital) và ở Củ Trung Não Trên (colliculus supérieur). Những trung khu
nầy giúp chúng ta nhận ra hình dạng, màu sắc và vị trí của đối tượng trong
không gian.
Diễn trình từ khi
đối tượng được đập vào võng mạc cho tới khi não hệ diễn dịch thành ý nghĩa và
hành xử trước đối tượng, khoa học nhận thức (science cognitive) ghi nhận có 4
giai đoạn :
a- dò tìm
(détection) : giai đoạn nầy để trả lời câu hỏi: có hay không có hình ảnh lọt
vào mắt?
b- nhận diện
(identification) : trong giai đoạn nầy câu hỏi sẽ là hình ảnh nầy là cái gì?
c- phân biệt
(discrimination) : hình ảnh nầy có đúng là hình ảnh mà mình đã biết trước kia,
có tên gọi là « A » không ?
Ba giai đoạn nầy kết
thúc chức năng nhận biết.
d- đánh giá
(estimation) : sau khi đã nhận biết đối tượng, đến giai đoạn đánh giá đối tượng
và đưa ra câu hỏi : mình làm gì trước đối tượng đây ?
Đến đây tâm bước
qua giai đoạn hành động, sẽ có nhiều tư tưởng phát sinh chung quanh đối tượng.
Như vậy kết quả của
tưởng là sự nhớ lại, nhận biết, hình dung và diễn dịch một cảm giác (qua 6 giác
quan) thành ý nghĩa và đối tượng đã được định danh.
Từ một hình ảnh,
âm thanh, mùi hương,… ý niệm đã được nhận diện định danh, tưởng sẽ sinh ra những
ý nghĩ, tư tưởng…
Muốn cho những ý
tưởng không bị phân tán, bấn loạn Phật giáo đã có đề nghị mười pháp thiền quán
tưởng về bất tịnh, về sự chết, quán tưởng về sự uế trược của thức ăn, quán tưởng
về vô thường, khổ, vô ngã …v.v…
Hãy nghe Đức Phật khuyên bảo : « Nầy các Tỳ
kheo, mười tưởng nầy được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi
ích lớn, thế nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. » (Tăng Chi Bộ -VI- 56
Tưởng).(Sưu tầm)