2/06/2020

Sắc Uẩn

Vào thời của Đức Phật, khi ngài nói đến 2 chữ Danh Sắc, chỉ có một số ít người hiểu, ngài phải giảng rộng ra là Ngũ uẩn. Danh là thọ, tưởng, hành, thức ; Sắc là sắc uẩn. Săc uẩn theo Vi Diệu Pháp có 28 sắc pháp :  
1- Tứ Đại : đất, nước lửa, gió 
Đất phải được hiểu là chất ở thể rắn, Nước là chất ở thể lỏng, Lửa là dạng năng lượng của vật chất và Gió là thể hơi của vật chất. Bốn yếu tố này có thể hiện hữu đầy đủ trong các loại vật chất.
Lấy ví dụ : nước ở thể lỏng, đưa nó xuống dưới 0°C, nó sẽ trở thành thể đặc (chất đất), đưa nó lên trên 100°C, nó sẽ trở thành hơi nước (chất gió), năng lượng làm cho nó biến đổi từ thể đặc sang thể lỏng hay thể hơi, chính là ở chất lửa. Năng lượng là tiềm năng có sẵn trong tất cả vật chất.
Như vậy Đất, Nước, Lửa, Gió phải được hiểu là 4 thể dạng tiêu biểu của vật chất.
2-   Sắc Thần kinh có 5 : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Còn Ý ở đâu ? Xin xem phần Ý vật dưới đây. 
3-   Sắc Trần Cảnh có 4 : Sắc, Thinh, Hương, Vị làm đối tượng cho các giác quan tương ứng.
Riêng Xúc là đối tượng của thần kinh thân đã được kể trong đất, gió, lửa. 
4- Sắc Phái tính có 2 : Sắc Nam tính và Sắc Nữ tính.
Theo khoa học hiện nay thì Nam tính được qui định bởi 2 nhiễm sắc thể (chromosomes) XY, còn Nữ tính được qui định bởi 2 nhiễm sắc thể XX.
5- Sắc Ý Vật :
  Trong bộ Patthana (Pháp trí luận hay bộ Vị trí, bộ thứ 7 của Tạng Luận) Đức Phật nói đến căn cứ điểm của tâm thức bằng danh từ Yamrupanissaya (nghĩa là nương theo sắc pháp ấy) ; như vậy đối với Đức Phật có 1 căn bản vật chất cho tâm mà ta có thể gọi là Ý vật hay Ý căn.
Đức Phật không có nói rõ Ý vật nằm ở đâu. Nhưng các nhà chú giải dựa theo truyền thống Upanishad thời Phật còn tại thế, nói rằng Sắc Ý vật ở trong tim. Y học hiện đại đã cho thấy là tâm không nằm trong trái tim, vì ngày nay người ta có thể thay thế hoàn toàn trái tim mà tâm thức con người vẫn không thay đổi ; trong khi đó khoa học vẫn chưa thay thế được bộ óc của con người.
Do đó tôi xin đề nghị 1 định nghĩa của Ý vật (hay Ý căn) là tập hợp toàn bộ các neurones cùng làm một nhiệm vụ trong một khoảng thời gian nhất định (như Nghe, Thấy, Ngửi …Vận động, Suy nghĩ...) Tập hợp nầy bao gồm các neurones đầu tiên tiếp nhận, hay khởi động nguồn kích thích cho đến những neurones cuối cùng nằm trên đường dẫn truyền luồng thần kinh, kể cả những neurones ăn khớp (synapses) với những neurones trên và cùng rung động khi cùng làm 1 việc.
Tại sao có một định nghĩa hiện đại như vậy, bởi vì ngoài lý do khoa học tâm não nói trên, sự vận hành của sắc pháp luôn luôn xãy ra theo từng nhóm, từng đoàn (chẳng hạn nhóm Nhãn sắc bao gồm : 8 sắc bất ly, sắc vật thực, sắc mạng quyền, sắc
thần kinh nhãn) chỗ nào có sự hiện diện của neurone chỗ ấy đều có thể là căn của tâm. 
6- Sắc Mạng Quyền
Chính là sinh khí (énergie vitale) để nuôi dưỡng cơ thể một sinh vật như con người, thú vật hay cây cỏ, do sự tác động chuyển hoá giữa dưỡng khí và vật thực. Một cơ thể chết thì không còn sinh khí.
Một cách tổng quát chúng ta có công thức :
Vật thực + O2 = CO2 + H2O + sinh khí
7- Sắc Vật thực
Là những chất dinh dưỡng để nuôi sống cơ thể. Kinh sách xưa thì chỉ nói giản dị như thế. Khoa học ngày nay có cả một bộ môn dinh dưỡng để nghiên cứu về những thức ăn cần thiết nuôi sống cơ thể. Chúng ta có thể kể 7 loại như sau :
a- Nước uống rất quan trọng vì cơ thể có từ 65-70% nước.
b- Thức ăn có phân tử lớn (macronutriments) : chất glucides, protides, lipides. 
c- Các sinh tố :
- loại tan trong mỡ : A, D, E, K.
 - loại tan trong nước : C và B1, B2, B3, B5, B6, B8, B9, B12. 
d- Các khoáng chất và kim loại :
Calcium, Chlore, Chrome, Cuivre, Iode, Fer, Fluor, Magnésium, Phosphore,
Potassium, Silicium, Sélénium, Sodium, Zinc…
 e- Những acides béo thiết yếu : Oméga 3 và Oméga 6. Chúng thuộc nhóm Lipides.
 f- Những acides aminés thiết yếu có 8 : Lysine, Tryptophane, Phénylalamine,
Leucine, Isoleucine, Valine, Méthionine, Thréonine. Chúng thuộc nhóm Protides. 
g- Những thớ sợi (fibre) có trong rau cải, trái cây, ngủ cốc, rong biển…
8- Sắc Hư Không
 Hư không ở đây không phải là tánh không (Sunyata, Sunnata) vì tánh không chỉ là một danh từ trừu tượng, cũng không phải là không gian rộng lớn của vũ trụ hay lớp không khí bao quanh trái đất (đã được đại diện bởi Gió trong Tứ Đại)
 Vi diệu pháp định nghĩa Hư Không như là khoảng trống bên trong vật thể, phân chia các sắc với nhau, là kẽ hở làm ranh giới giữa các Sắc, nhờ đó mới có thể nhận diện riêng từng Sắc một.
 Ví dụ : khoảng Hư Không ở giữa hai màng phổi hay ở giữa các sớ thịt...
9- Sắc Biểu Tri
 Là phương tiện để con người có thể truyền thông tư tưỡng để diễn đạt tình cảm và cảm xúc của mình. Có hai loại Sắc Biểu Tri : thân và khẩu.
 - thân biểu tri : dấu hiệu bằng tay, chân, đầu, mặt (như ngôn ngữ của người câm điếc) hay sắc mặt.
 - khẩu biểu tri : ngôn ngữ, âm thanh (ví dụ tiếng suỵt diễn tả yêu cầu im lặng…)
10- Sắc Biến Đổi
 Là những trạng thái của Sắc để biểu hiện sự sống động của một cơ thể sống. Một xác chết không có 3 Sắc nầy, một người bị liệt 3 sắc nầy trở nên yếu đuối. Ba sắc nầy gồm có :
- Sắc khinh : là sắc có tính cách nhẹ nhàng. 
- Sắc nhu : là sắc có tính cách mềm mại.
- Sắc thích nghiệp : là sắc có tính cách linh hoạt, thích ứng phù hợp với ý định (nghiệp) của thân hành.
11- Sắc Tứ Tướng
Là bốn sắc tướng biểu hiện trong chu trình tiến hoá theo thời gian :
 - Sắc sinh : sắc đang ở trạng thái sơ sinh.
 - Sắc tiến : sắc đang ở trạng thái tăng trưởng.
 - Sắc dị : sắc đang ở trạng thái thoái hoá, già nua.
 - Sắc diệt : sắc đang ở trạng thái hoại diệt.
 Hai sắc Tiến và Dị còn được gọi chung là Trụ

  Tóm lại  4 Đại ( Địa, Thủy, Hỏa, Phong); 24 Y đại sinh:  5 Sắc thần kinh: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân +  4 Sắc cảnh giới: Sắc, Thanh, Khí, Vị +  2 Sắc tính: Nam, nữ +  4: Sắc ý vật; mạng căn; vật thực; hư không + 2 Sắc biểu tri: Thân, khẩu +  3 sắc đặc biệt: khinh, nhu, thích nghiệp +  4 sắc tứ tướng: sinh, tiến, dị, diệt.
(Sưu tầm)