1. Kàyànupassanà-satipatthàna,
Thân Quán Niệm Xứ, vắn tắt gọi Niệm Thân, là sự chú niệm kiên cố áp đặt vào những
hiện tượng của thân, như hơi-thở-vào và hơi-thở-ra...
2. Vedanànupassanà-satipatthàna,
Thọ Quán Niệm Xứ, vắn tắt gọi Niệm Thọ, là sự chú niệm kiên cố áp đặt vào những
cảm thọ.
3. Cittànupassanà-satipatthàna,
Tâm Quán Niệm Xứ, vắn tắt gọi Niệm Tâm, là sự chú niệm kiên cố áp đặt vào những
tư tưởng hay những tiến trình tâm, như ý nghĩ liên hợp hoặc không liên hợp với
khát vọng.
4. Dhammànupassanà-satipatthàna,
Pháp Quán Niệm Xứ, vắn tắt gọi Niệm Pháp, là sự chú niệm kiên cố áp đặt vào những
hiện tượng như những chướng ngại tinh thần (nìvaranas, pháp triền cái) v.v...
Ngay trong kinh Tứ Niệm Xứ của
Trường Bộ hay Trung Bộ, Đức Phật có xác định một điều“Này các tỳ kheo, đây là
con đường duy nhất dẫn đến giải thoát.”
Tứ Niệm Xứ là quan sát để không
hiểu lầm nữa, mà khi hiểu ra rồi thì không có cái gì để mình thích nữa và không
có cái gì để mình ghét nữa
Thánh nhân y chang như vậy,
khi duyên lành Ba-la-mật đã đủ rồi, thì chỉ cần nghe một câu nói nào đó thôi là
người ta buông hết.Còn mình, sở dĩ mình không đắc được mà cũng không tin trên đời
này có thánh nhân hoặc không tin có người đắc dễ dàng vì mình không đủ Ba-la-mật,
chớ đủ rồi thì buông dễ ẹc. Bởi vậy mới có câu “Tu muôn kiếp ngộ nhất thời”.
Cho nên bây giờ việc lành nào làm được cứ làm, tất thảy những điều đó mình đều
nguyện biến nó thành nguồn năng lượng giải thoát hết, chuyển nó qua tài khoản gọi
là Ba-la-mật hết, chẳng hạn như quét dọn, rửa chén, cúng cơm, dâng trái, phục vụ,
dắt bà già qua đường v.v...
Ở đây cũng vậy, mình đi vô
chùa làm phước, mình cứ nghĩ bỏ tiền ra làm phước thì gọi là phước. Sai! Tùy
vào mình làm phước kiểu gì, bằng cái tâm trạng gì. Chỉ cần Ba-la-mật đầy đủ thì
trí tuệ chín muồi. Ba-la-mật là làm phước không phải vì lòng cầu danh cầu lợi,
mà tất cả công đức, đức lành và thiện pháp đều chuyển khoản vào tài khoản
Ba-la-mật hết. Nghĩa là không đầu tư vào chuyện cầu danh cầu lợi mà phải dồn hết
vào tài khoản giải thoát.
Tứ Niệm Xứ là mượn cảnh sắc
pháp của thân người làm đề mục quán niệm, biết rõ nó đang trong tình trạng nào;
đang đi đứng, nằm ngồi, co duỗi, cầm lên, đặt xuống, đụng chạm… biết rõ; biết
rõ nó đang thở ra thở vào; biết rõ rồi đây sẽ có lúc nó sình lên, chảy nước và
bốc mùi không ai dám đụng tới; biết rõ nó rồi đây sẽ có lúc thành ra một bộ
xương trắng hếu, rồi lâu ngày thành bột hòa tan vào đất v.v…Tất cả những đề mục
quán niệm này đều được gọi chung là thân quán niệm xứ. Tại sao nó quan trọng
như vậy? Bởi vì có những người thích những đề mục cụ thể điển hình rõ ràng sắc
nét như vậy, có thể thấy bằng mắt, sờ bằng tay họ mới dễ dàng tập chú chánh niệm
và trí tuệ để quán chiếu.
Nhưng có những người không
thích hợp với đề mục quá cụ thể quá rõ ràng như vậy, họ lại tập chú chánh niệm
vào trong một cảnh đề mục khác, đó là theo dõi những cảm giác trong thân: cái
này là dễ chịu, cái này là khó chịu, cái này là vui, cái này là buồn, là giận…;
họ chú ý những khía cạnh cảm giác đó thì được gọi là thọ quán niệm xứ. Trong một
ngày, những cái thọ này không bao giờ tách rời mình hết.Khi mắt mình nhìn thấy
cái gì đó, tai nghe cái gì đó, mũi, lưỡi, thân, ý của mình khi nó làm việc với
trần cảnh nào đó thì ngay lập tức mình có cảm giác liền; cảm giác đó lập tức được
ghi nhận, việc ghi nhận này được gọi là Thọ quán niệm xứ.
Tâm quán niệm xứ là biết rõ
tâm này là tâm thiện, tâm này là tâm ác… Thọ quán niệm xứ là quan sát cảm giác
thôi, còn tâm quán niệm xứ là quan sát tâm trạng, bởi vì cảm giác vui chỉ ghi
nhận vui còn Tâm quán niệm xứ thì ghi nhận cái vui này là tâm tham thọ hỷ hay là
tâm thiện thọ hỷ. Một bên là quan sát cảm giác cảm thọ, một bên là quan sát tâm
trạng. Quan sát tâm trạng là biết rõ bây giờ mình đang sống bằng tâm tham, tâm
sân hay tâm si, tâm này có thiền, tâm này không có thiền, biết rất là rõ, đó là
Tâm quán niệm xứ.
Pháp quán niệm xứ là gì? Tôi
hỏi, quí vị trả lời nghen. Quí vị biết rõ một ông già (nhiều râu) vừa đi ngang
qua mặt mình, cái biết này có cần đến kiến thức hay không? Cái biết này không cần
kiến thức. Nhưng cái biết thế này thì phải cần kiến thức: biết rằng ông già này
là một giáo sư đại học ngành khảo cổ của trường đại học Sorbonne bên Pháp, mà
Pháp là một nước châu Âu, mà Sorbonne là trường đại học hàng đầu của Pháp, mà
khảo cổ học là ngành khoa học tập trung nghiên cứu tìm hiểu những di sản văn
hóa lịch sử đời xưa. Ngay chữ giáo sư, trường đại học Sorbonne, ngành khảo cổ học…
là cần phải có kiến thức mới biết. Hai cái biết khác nhau.
Biết đây là tâm tham, biết
đây là tâm sân, biết đây là thọ hỷ, thọ ưu… đó cái biết của Thọ quán trong Thọ
quán niệm xứ, cái biết đơn giản không cần kiến thức. Nhưng cái biết của Pháp
quán niệm xứ thì đòi hỏi chuyên môn hơn: khi mình khó chịu, thay vì mình biết
đây là tâm sân thì mình biết là Sân triền cái; thay vì biết đây là thọ hỷ thì
mình biết đây là Hỷ giác chi; biết cái này là Tâm tham thọ hỷ hay là Dục triền
cái, cái này là Dục triền cái hay là Tâm thiện thọ hỷ hay là Hỷ giác chi… Nghĩa
là muốn tu tập Pháp quán niệm xứ này thì cần phải có kiến thức Phật pháp, cần
phải có một sở tri về giáo lý nhất định; anh phải nhận diện được cái xuất hiện
trong lòng anh là cái gì một cách rất chuyên nghiệp đòi hỏi kiến thức chuyên
môn (biết rõ đây là Thất giác chi, biết rõ đây là Trạch pháp giác chi, biết rõ
đây là Niệm giác chi, chánh niệm trong Bát chánh đạo…). Pháp quán niệm xứ là gồm
chung danh sắc, khi thấy cái gì đó (thay vì niệm là ‘thấy’ như ở Thân quán niệm
xứ) thì mình niệm là “nhãn căn đang làm việc”.
Người ta có câu nói này: té ở
đâu thì đứng lên từ đó; mình sanh tử luân hồi là vì mình đam mê trong sáu căn
sáu trần, đam mê trong danh sắc; bây giờ mình muốn giải thoát sanh tử, không tiếp
tục sanh tử nữa thì mình phải lìa bỏ niềm đam mê đó; muốn lìa bỏ niềm đam mê đó
thì mình phải biết rõ nó là cái gì để không tiếp tục đam mê nữa.
Ở đây cũng vậy, hành giả biết
rõ danh - tinh thần của mình là cái gì, sắc - thể xác này của mình là cái gì,
nó hoạt động ra sao, nó mong manh phù du, vô thường, bất tịnh đau khổ như thế
nào, hiểu được bằng sự thấm thía của trí tu, không phải hiểu bằng sách vở.Nhiều
người cứ tưởng mình học giỏi là mình hiểu giống như thánh nhân. Không phải, cái
biết của thánh nhân không giống như của mình. Một người chưa ăn sầu riêng thì đọc
một ngàn trang sách mô tả về sầu riêng cũng không thể nào biết được, nhưng chỉ
cần ăn một múi là biết, biếtsầu riêng của Thái khác sầu riêng của VN, sầu riêng
VN khác sầu riêng Mã Lai như thế nào. ..
Ở đây cũng vậy, mình học đạo
cho nhiều, nhưng để thấy chán, thấy nản, thấy oải danh sắc thì phải là người sống
chết ở trong pháp môn Tuệ quán. Sống chết nghĩa là người này ý thức rất rõ chuyện
sống nay chết mai, người này biết rất rõ những buồn vui thiện ác của mình ghép
nối gắn kết với nhau trong từng giây mà chỉ có sự quan sát bản thân mới cho
mình sự thấm thía đó, còn nếu chỉ coi sách coi kinh nghe người này người kia giảng
thì không đủ để diệt trừ phiền não.Phải chính bản thân mình thấy hồi nãy khác,
bây giờ khác, thấy rõ hồi nãy đi bây giờ ngồi, hồi nãy ngồi bây giờ nằm, hồi
nãy khó chịu bây giờ dễ chịu, hồi nãy dễ chịu bây giờ khó chịu, hồi nãy vui bây
giờ buồn, hồi nãy buồn bây giờ vui, hồi nãy thiện bây giờ bất thiện, hồi nãy bất
thiện bây giờ thiện…; những thấm thía này chỉ có hành giả mới thấy được.
Bốn pháp trên gọi chung là Tứ Niệm Xứ. Hành giả
có là tổng thống, thủ tướng, kỹ nữ, thầy chùa, du đãng, vô gia cư hay thương
gia cho đến côn trùng giun dế… tất cả đều nằm trong vòng cương tỏa của Tam tướng.
Hễ mang thân thì phải có danh sắc, ở đâu có danh sắc thì ở đó có vô thường, khổ
và vô ngã. Tứ Niệm Xứ là bốn cánh cửa để ta bước vào quan sát thấm thía, thân
chứng, thể nghiệm thân và tâm này.(Sưu tầm - trích dẫn theo bài giảng của sư Toại Khanh)