2/01/2020

Chướng Ngại

Có 6 chướng ngại để bước vào cái quyết định tánh trong thiện pháp, có nghĩa là không thể nào chứng thánh:
1. Nghiệp chướng 
Nghiệp chướng ở đây là 5 tội đại nghịch gồm có giết cha, giết mẹ, giết A la hán, làm thân Phật chảy máu, chia rẽ tăng.

2. Phiền não chướng
Phiền não thì có nhiều lắm tham, sân, si, ái, mạn, kiến, nghi tầm bậy tầm bạ. Dục ái, sắc ái, vô sắc, sân, ngã mạn, phóng dật, trạo hối, hoài nghi ... Gom chung lại hết thì trong tất cả các phiền não thì phiền não nặng nhất hết thảy đó chính là tà kiến.
Tà kiến là thường kiến và đoạn kiến.
Thường kiến sửa được. Thường kiến là tin có một cái tôi, tin có một cõi vĩnh hằng, tin có một đấng cao xanh nào đó.
Đoạn kiến : còn gọi là tà kiến cố định có 3.
1. Vô hành kiến: cho rằng không có thiện ác, thích thì làm không thích thì thôi chứ không có cái chuyện báo ứng.
2. Vô nhân kiến: có nghĩa là cho rằng mọi sự ở đời này là ngẫu nhiên mà có chứ không có cái nhân duyên, cái tác động của bất cứ một điều kiện nào hết. Tự nhiên nó có vậy thôi.
3. Vô hữu kiến: có nghĩa là phủ nhận triệt để rốt ráo hoàn toàn tuyệt đối. Phủ nhận tất cả những gì mà mình không hiểu được, không thấy được, không chứng minh được, thì tất cả những thứ đó theo mình là không có.

3. Dị thục chướng (quả chướng).
Quả chướng là đầu thai bằng cái tâm của người tâm thần, tâm của người gọi là tự bế bẩm sinh, người tâm thần bẩm sinh.
Quả chướng là ta đầu thai bằng tâm ly trí.
Tâm đầu thai ly trí là tâm quan sát quả bất thiện vô nhân. Cái thứ hai nữa đó là tâm quan sát quả thiện. Tâm thiện dục giới là tâm mà có mặt để cho ta làm những việc thiện liên quan đến tâm dục (năm trần). Sẽ có 3 hạng một là làm phước bằng cái tâm thiện có trí tuệ đi cùng thì sẽ đi đầu thai bằng cái tâm đầu thai có trí tuệ đi cùng. Cho nên sanh ra làm người có khả năng đắc đạo đắc thiền. Đắc đạo quả thiền định thần thông đó gọi là tâm thiện, ngày xưa mình làm thiện bằng cái tâm lành có trí đi cùng thì bây giờ sanh ra mình cũng đầu thai bằng tâm có trí đi cùng.
Hạng thứ hai là ngày xưa mình làm phước cũng dữ dội lắm nhưng mà có điều là không có trí đi cùng, thì bây giờ sanh ra cũng làm bác sĩ, kỹ sư mà đụng tới vấn đề tinh thần tâm linh coi như là cái chuyện đế vi huyền nhiệm trên trời trên mây, trừu tượng thì mình chịu chết. Làm bác sĩ, kỹ sư, kế toán lý hoá sử địa cũng ra làm rót rót rót nhưng mà đụng tới cõi tâm linh là nó đơ cái đầu liền, tới chỗ đó nó thót, nó chạm đến cái trần liền nhé. Đó là hạng thứ hai.
Còn hạng thứ ba là cũng do làm các việc lành nhưng đối tượng hạn chế, với cái tâm của mình cũng quá hạn chế. Có nhiều thuyết cho rằng đó là quả dư sót của một tâm thiện lớn. Có trường hợp cho rằng đó là trường hợp đối tượng, bản thân việc phước, việc công đức mà mình làm nó quá nhỏ mà đối tượng cũng quá tầm thường...
Cho nên quả lành nó có ba, cõi lành dục giới có ba:
1. Sanh ra làm người có trí tuệ đủ đắc đạo chứng quả thiền định
2. Làm người học hành thông minh nhưng không chạm vào cảnh giới cao siêu được.
Hạng thứ nhất gọi là hạng tam, thứ hai gọi là hạng nhị.
3. Thứ ba gọi là hạng vô nhân. Có nghĩa là những người sinh ra tàn tật bẩm sinh, ví dụ như bị bệnh tâm thần, trong nước gọi là tâm thần đồng ảnh, Mỹ gọi là Down syndrome.


4. Không có niềm tin: không có chánh tín, nghĩa là sao? Tức là không có tin được, không biết và từ đó không tin có chánh pháp ở đời. Không tin bốn chuyện sau đây:
  • 4.1. Không tin mọi thứ ở đời là khổ, dầu làm vua làm trời làm thiên đế thích, thái thượng lão quân, vương trì dương mẫu đi nữa thì tất thảy đều là khổ. Không tin điều đó, họ chỉ biết ăn ngon ngủ yên vậy là khoẻ rồi như cái con gì vậy đó.!
  • 4.2. Không tin rằng khi mọi thứ là khổ thì thích thứ gì cũng đều là thích trong khổ
  • 4.3. Không tin muốn hết khổ thì đừng thích trong khổ nữa
  • 4.4. Không tin trên đời này có đạo giải thoát, giúp cho mình hết khổ.
Đó là một cách phân tích.
Cách phân tích thứ hai. Họ không muốn tin vào những chuyện sau đây.
  • 1. Họ không tin mọi sự ở đời do duyên mà có, có rồi sẽ mất.
  • 2. Họ không tin rằng mình phải chịu trách nhiệm 100% về những gì mình nói, làm, suy nghĩ.
  • 3. Họ không tin hạnh phúc khổ đau ở đời đều do ảo giác mà ra
  • 4. Họ không tin rằng đời sống chánh niệm và trí tuệ là đời sống an lạc đời này và cứu cánh giải thoát cho đời sau.

5. Thiếu lý tưởng 
Phải có lý tưởng là sao? Phải biết rõ mình cần sửa cái gì, mình cần thêm cái gì, cái gì là cái mình phải đạt tới, cái gì là cái mình cần phải vượt qua. Chớ còn không có mong cái gì hết đó là tà. 

6. Thiếu trí tuệ.
 Trí tuệ là gì? Trí tuệ là khả năng biện biệt, biết cái gì nên cái gì không nên, biết tiến, biết thoái, biết dừng.
Nghĩa là biết ác thì không sống với nó nữa, còn cái gì thiện thì ta phát triển thêm nữa. Đó gọi là trí tuệ là trạch pháp giác chi. Các hành giả tu thiền chỉ, thiền quán gì cũng vậy. Tu thiền chỉ chỉ tập trung vào hơi thở, tập trung vào đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, hư không, ánh sáng, nhưng phải có trí tuệ biết bấy giờ mình đang trong tình trạng nào. Đấy! Hành giả tu thiền quán tứ niệm xứ cũng vậy, phải biết cái này nên cái này không nên, lúc nào nên đi lúc nào dừng lại, lúc nào tiến lúc nào thoái...
Trí tuệ nó có ba nguồn văn, tư, tu.
1. Văn có nghĩa là học hỏi lắng nghe, đọc từ người khác.
2. Tư nghĩa là thấm thía gặm nhấm tiêu hoá với riêng mình
3. Tu nghĩa là khả năng trí tuệ có được do tu samatha và vipassana.
(Sưu tầm)