PHỤC VỤ (Veyyāvacca)
Phụ giúp hoặc phục vụ trong
những thiện sự của người khác được gọi là Veyyāvacca - phục vụ. Chúng ta nên sẵn
lòng tự nguyện phục vụ để cho những thí chủ có thể cảm thấy được thư thả, bớt lo
lắng và công việc bố thí được hoàn thành viên mãn. Chúng ta cũng nên sẵn lòng
giúp đỡ người đau ốm, người tàn tật và già yếu, phụ giúp cho những người đang
mang vác những vật nặng, hoặc giúp cho cha mẹ và các bậc lớn tuổi bớt đi những gánh
nặng. Như vậy, mọi hình thức tự nguyện phục vụ cho người khác (với điều kiện những
việc làm ấy không phải là việc làm xấu, ác) đều được kể là veyyāvacca-kusala - phục
vụ thiện.
Nếu bạn có thiện chí và chủ ý
(cetanā) muốn tự nguyện phục vụ đích thực, những lợi ích (quả báo) bạn nhận được
có thể sẽ lớn hơn quả báo của thí chủ. Chẳng hạn, vào thời Đức Phật có một vị
lãnh Chúa tên Pāyāsi, vốn là người ngoại đạo song nhờ lời dạy của tôn giả Kumāra
Kassapa đã trở thành một người có lòng tin với Tam Bảo. Pāyāsi sau đó thường
xuyên làm các việc bố thí và để bát cho chư tăng. Nhưng ông không tự mình làm
những thiện sự ấy. Thay vào đó ông uỷ thác cho thanh niên Uttara làm công việc cúng
dường vật thực đến các vị tỳ khưu. Mặc dù Uttara làm việc nhân danh vị lãnh
chúa, song anh đặt hết tấm lòng mình vào việc để bát. Khi cả hai chết, Pāyāsi tái
sinh vào cõi Tứ đại Thiên vương (Catumahārājika), cõi trời thấp nhất trong sáu cõi
trời dục giới, trong khi Uttara được sanh về cung trời Đạo lợi (Tāvatiṁsa), cõi
trời cao hơn Tứ đại thiên vương.
HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC (hay chia phước- Pattidāna)
Chia phước hay chia những thiện
sự đã làm với người khác được gọi là hồi hướng công đức – pattidāna, (patti là
những gì bạn có được; dāna là bố thí hay chia sẻ). Người làm phước hay thí chủ chắc
chắn sẽ hưởng được những lợi ích của việc phước mình đã làm. Song ước muốn chia
sẻ phước báu ấy với người khác lại còn cao thượng hơn nữa. Do đó, sau mỗi lần
làm được một thiện sự nào, mọi người chúng ta nên công bố, “Phàm những ai được nghe
lời này, hãy cùng chia phước báu với tôi. Cầu mong các vị được thật nhiều lợi
ích như tôi vậy”, và như thế bạn đã chia những phước báu mình kiếm được. Đây là
pattidāna hay hồi hướng công đức, một việc làm tự thân nó kể như một thiện sự
riêng biệt.
Cẩn thận : Có một số thí chủ chỉ
nói bằng miệng, “Tôi xin chia phước đã làm” vậy thôi chứ không thực sự muốn làm
như thế. Sự chia sẻ có tính cách chiếu lệ này không đủ điều kiện để trở thành
pattidāna - hồi hướng công đức.
Xưa có một người thí chủ, sau
khi vay mượn được một số tiền, đã mời rất nhiều người tới dự bữa tiệc linh đình
mừng con trai ông xuất gia sa-di. Tiền đóng góp (từ những người khách mời)
không đủ để trang trải những phí tổn của buổi tiệc theo như ông mong đợi. Sau buổi
lễ, đến phần chia phước hay hồi hướng công đức vào lúc ông đang nhẩm tính xem
mình phải thiếu nợ bao nhiêu, một người ngồi kế bên nhắc ông việc chia phước. Bức
bách bởi nghĩ đến món nợ nặng nề sẽ phải trả, thay vì nói, “Tôi xin chia phước
này đến mọi người” ông lại thốt lên thật lớn, “Tôi hoàn toàn chẳng có xu nào cả!”
* Chia phước không làm giảm quyền
lợi của bạn
Khi bạn làm một thiện sự và
chia phước đã kiếm được đó cho mọi người, có thể bạn nghĩ rằng phước báu của bạn
sẽ giảm đi. Ở đây chúng ta phải nhớ rằng phước báu có được hợp theo cetanā hay chủ
ý của bạn. Khi chúng ta bố thí với một thiện ý thật sự, chúng ta kể như đã làm
được một việc thiện, và chúng ta cũng đã kiếm được một phước báu xứng đáng với việc
thiện đó. Vì thế khi bạn chia phước đã kiếm được với người khác, bạn lại có
thêm phần phước báu cho tính cao thượng của bạn. Không có lý do gì phước báu của
bạn lại giảm đi được.
Chia phước cũng giống như mồi
đèn từ một cây đèn đã cháy vậy. Cây đèn đầu tiên tất nhiên phải được thắp sáng
nhờ bật một que diêm. Nhưng có thể dùng cây đèn này để mồi cho nhiều đèn khác;
cho dù bao nhiêu đèn có được mồi chăng nữa, độ sáng của cây đèn đầu tiên cũng
không sao giảm đi được. Trái lại, ánh sáng kết hợp của tất cả các ngọn đèn sẽ tỏa
sáng thêm rất nhiều. Chia phước kiếm được từ thiện nghiệp giữ giới (sīla-kusala)
và thiện nghiệp tu thiền (bhāvanā kusala) cũng là hồi hướng công đức (pattidāna)
vậy.
TÙY HỶ CÔNG ĐỨC - Pattānumodana
Hoan hỷ khi thí chủ hồi hướng
công đức hay chia phước họ đã làm, nôm na gọi là tùy hỷ công đức - pattānumodana.
Khi ai đó chia phước, bạn nên hoan nghinh điều đó và bày tỏ lời “sādhu” (lành
thay) ba lần. Cảm thấy vui đối với thiện sự người khác làm là thái độ rất đáng ca
ngợi. Thái độ ấy có bản chất của tâm hỷ (muditā). Tuy nhiên, để thành tựu việc tùy
hỷ công đức thực sự không phải là dễ. Một người tỏ bày lời “sādhu” - lành thay
có tính chất thông lệ, thiếu chủ tâm và không hoan hỷ thực lòng thì đó không phải
là tùy hỷ công đức mà chỉ là nghi thức, và đôi khi đã không thực sự cảm thấy hoan
hỷ đối với việc làm công đức của người khác, thay vào dó họ có thể trưởng dưỡng
thêm tâm ganh ghét và đố kỵ mà thôi.
* Lợi ích tức thì của tùy hỷ
công đức
Thường thường người ta bố thí
và đặt bát cho Chư Tăng là để hồi hướng phước cho những người thân trong gia
đình đã quá vãng. Nếu người đã chết tái sinh trong các cõi xấu nhận được phước hồi
hướng với tâm hoan hỷ, họ sẽ lập tức thoát khỏi khổ cảnh. Theo kinh điển, nếu
việc hồi hướng công đức hay chia phước được làm sau khi bố thí thức ăn hay đặt
bát cho Chư tăng, người quá cố, tỏ lời “sādhu”-lành thay, sẽ lập tức thoát khỏi
đói khát; nếu bố thí hay cúng dường thuộc về y áo người chết sẽ được y phục đầy
đủ do tỏ lời sādhu. Điều quan trọng nhất bạn cần lưu ý là trong việc đặt bát
hay cúng dường vật thực để hồi hướng cho người quá vãng, đối tượng thọ nhận phải
là người xứng đáng cúng dường. Xưa, tang quyến của gia đình nọ mời một ác giới
Tỳ khưu (dussila-bhikkhu) - tức một vị sư không có đạo đức - đến nhà và cúng dường
vật thực để hồi hướng phước cho người thân đã quá vãng. Thậm chí khi phước báu
được hồi hướng đến ba lần, người quá vãng - là một ngạ quỷ (peta) lúc đó - cũng
không nhận được phần phước (đáng được hưởng) của mình. Vì thế y kêu la quyến
thuộc, “Ác giới Tỳ khưu này đã ăn cắp phần phước của tôi rồi!” Thế là quyến thuộc
y phải làm phước cúng dường đến một vị sư giới đức. Chỉ khi ấy ngạ quỷ mới nhận
được phần phước của mình và thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. (Xem chú giải kinh Phân Biệt
Cúng Dường - Dakkhināvibhaṅga Sutta - Trung Bộ Kinh).
Sự việc trên dạy cho chúng ta
một bài học. Khi chúng ta hiến dâng phước bố thí của chúng ta cho một người bạn
hay quyến thuộc đã quá vãng, điều trước tiên phải làm là loại trừ tâm đau đớn, ưu
sầu của chúng ta đi đã. Chỉ lúc đó chúng ta mới nên cúng dường vật thực, y áo,
dù, dép, chùa chiền, v.v… đến các vị Sư. (cúng dường một ngôi Chùa hay xây cất
một ngôi Chùa là để cho ngạ quỉ có chỗ ở). Còn về đặt bát, chúng ta phải thỉnh
một vị sư có giới đức trong sạch; hoặc phải thực hiện tăng thí (sanghika- dāna),
tức là cúng dường với tác ý đến toàn thể tăng chúng. Trước khi làm lễ cúng dường
này, chúng ta nên mời người đã quá vãng đến để chia phước. (Họ sẽ đến nếu như
có thể). Trong trường hợp đó chúng ta phải gọi đích danh tên người đã quá vãng
và chia phần phước có được đến cho họ.
* Lễ nghi ngày nay
Ngày này, hầu hết mọi người,
sau khi người thân qua đời, không lưu tâm tới việc chọn những vị Sư giới đức. Họ
cũng chẳng màng đến việc loại trừ tâm đau khổ, buồn rầu của họ. Họ cúng dường vật
thực hoặc thậm chí cả tiền bạc đến các vị Sư ngay tại nghĩa trang, xem đó như một
thông lệ, dường như để tránh tiếng đời cười chê và để được mọi người khen ngợi
(là con cháu hiếu thảo) mà thôi. Và rồi họ cũng hồi hướng công đức song chẳng
nghĩ sâu xa đến những lợi ích cho người quá vãng. Thà rằng cúng dường vật thực ở
nhà mà tâm không ưu sầu hơn là làm thế tại nghĩa trang trong lúc còn bị bức
bách bởi bi ai và sầu muộn. Tất nhiên những thiện sự đã làm và vật thực đặt bát
tại nghĩa trang cũng sẽ tạo thành công đức nếu điều đó được thực hiện với tâm
không ưu sầu và than khóc.
* Ai là người được hưởng phước
hồi hướng?
Những người đã quá vãng nếu tái
sinh làm ngạ quỷ (petas) có thể nhận được những lợi ích từ việc hồi hướng công
đức hay chia phước với điều kiện họ phải có mặt trong khu vực quanh (chỗ làm
phước) đó. Nếu họ đã tái sinh làm người, làm thú vật, hoặc làm ngạ quỷ ở những núi
rừng xa xôi, họ không thể nhận được phần phước đã chia. Tuy nhiên, những thân bằng
quyến thuộc đã chết khác hiện làm ngạ quỷ trong vùng lân cận, có thể hoan hỷ với
lễ làm phước này và được tái sinh trong những cảnh giới tốt đẹp hơn. Do đó,
chia phước đến người đã chết là một việc làm xứng đáng, và mọi người phải nên duy
trì.
(Sưu tầm)
(Sưu tầm)