THÍNH PHÁP (Dhammasavana)
Dhammasavana nghĩa là Thính
Pháp hay nghe Pháp của bậc Giác Ngộ. Có năm lợi ích của việc thính pháp: (1) có
thêm kiến thức mới, (2) những điều đã hiểu biết được sáng tỏ hơn, (3) giải tỏa
được những điều mơ hồ, hoài nghi, (4) có được đức tin chân chánh, (5) làm cho
tâm trong sáng nhờ phát triển niềm tin và trí tuệ.
* Những cách nghe Pháp không
đúng
Nghe Pháp với ý định gặt hái
năm lợi ích kể trên là nghe Pháp chính đáng. Có số người đi dự những buổi thuyết
Pháp chẳng qua vì họ thân thiện với vị Pháp Sư; có người vì thích nghe những câu
chuyện cười và những giai thoại có tính cách tiếu lâm; có số vì sợ người khác
cáo buộc là quá lười; số khác thích đi nghe Pháp để đánh giá khả năng của vị pháp
sư, v.v… Tất nhiên bạn chẳng thể gặt hái được lợi ích gì từ việc nghe Pháp với
những ý định thấp hèn như vậy. Xưa có một người Trung Hoa qua sông trên một chiếc
thuyền nan, lúc người chèo thuyền cảnh báo rằng chiếc thuyền bị rò một lỗ. Người
Trung Hoa nghĩ như thế có nghĩa là nước từ trong thuyền sẽ rỉ ra và chảy vào
sông; vậy thì có chuyện gì mà phải lo. Được một lát, ông để ý thấy đũng quần
mình bị ướt. Ông kinh hoảng và la lên "Thuyền này đâu có rỉ ra đâu; nó còn
cho nước lọt vào đây này!" Mục đích chính xác của việc nghe Pháp là để cho
những tư duy ác của chúng ta chảy ra. Vì thế chúng ta phải rất thận trọng, nếu
không chúng ta sẽ để lọt vào tâm nhiều điều ác thêm mà thôi.
* Những lợi ích của đọc sách
Ngày nay có rất nhiều quyển
sách có thể đem lại cho chúng ta sự khôn ngoan và kiến thức. Ở Miến, một quốc
gia lấy đạo Phật làm quốc giáo, có hàng trăm cuốn sách chuyên đề Phật học xuất
hiện trên các kệ sách. Nhờ đọc những cuốn sách này bạn có được những lợi ích giống
như nghe Pháp vậy. Do đó, đọc các loại sách như thế này có thể còn lợi ích hơn
nghe những bài thuyết giảng hiện đại rất nhiều. Thậm chí nếu bạn không đọc được,
bạn có thể nhờ người khác đọc lớn lên cho bạn nghe. Điều này cũng tương đương với
việc nghe Pháp.
THUYẾT PHÁP (Dhammadesanā)
Dhammadesanā có nghĩa là thuyết
giảng Pháp (dhamma). Nếu được làm với lòng chân thành và cao thượng, thuyết
pháp vượt xa các hình thức bố thí (dāna) khác. Chính Đức Phật đã nói “Sabbadānaṁ Dhammadānaṁ
jināti” (Pháp thí thắng mọi thí). Để thực sự thành tựu thiện nghiệp thuyết Pháp
chân chánh, người thuyết giảng hay Pháp Sư phải không mong đợi quà cáp, cúng dường;
danh vọng hoặc ngã mạn. Vì nếu thuyết pháp với tâm mong cầu như vậy, lòng tham
(lobha) đối với lợi lạc vật chất sẽ làm ô nhiễm và giảm bớt những công đức do thuyết
pháp đem lại. Lúc đó vị Pháp Sư sẽ chẳng khác gì kẻ ngu si kia đem đổi gỗ trầm
hương đáng giá cả trăm ngàn lấy một bình dấm chua vô vị.
* Tư cách của một vị Pháp Sư
Một vị Pháp Sư đầy đủ tư cách
không chỉ là người diễn thuyết thông thường. Họ phải có một giọng nói rõ ràng
và đầy oai lực; nhất là phải có đủ khả năng để làm cho người khác hiểu mình một
cách minh bạch. Một vị Pháp Sư như vậy quả thực là khó kiếm. ví như cả ngàn con
bò trong một trang trại chăn nuôi lớn, song chỉ một con trong số đó sanh ra được
con bê đực hoàn hảo. Cũng vậy, hàng ngàn bà mẹ chưa chắc đã sinh ra được một vị
Pháp Sư lỗi lạc. Một vị Pháp Sư lỗi lạc quả thực là một nhân vật hiếm hoi trong
cuộc đời này.
* Những bất lợi của việc phát
âm không đúng
Những vị pháp sư có đầy đủ tư
cách cũng cần phải biết đến những thiện nghiệp trong các kiếp quá khứ của họ,
khi đọc hay trùng tuyên thánh pháp do Đức Phật dạy, pháp sư phải dõng dạc đọc với
chất giọng rõ ràng của đấng trượng phu, không nên cố tình làm cho giọng mình ra
vẻ khả ái bằng cách sử dụng trọng âm, ngữ âm hay phong cách không phù hợp.
Đức Phật đã nêu ra những bất
lợi của việc vận dụng không đúng âm ngữ, làm cho tiếng nói ngọt ngào giống như
đang hát trong lúc thuyết pháp. Những bất lợi đó là: (1) trở nên tham đắm với
chính giọng nói của mình; (2) người nghe cảm thấy thích thú theo kiểu dâm dật đối
với giọng nói của pháp sư; (3) pháp sư bị chê trách vì đang hát giống như người
thế tục; (4) pháp sư sẽ mất sự tập trung trong lúc bản thân ông đang cố gắng tạo
ra giọng nói ngọt ngào; (5) các thế hệ tu sĩ kế tiếp sẽ bắt chước cho giống cái
kiểu (thuyết pháp) không đúng đắn này...
* Các cách thuyết pháp giản dị
Thuyết pháp không chỉ có
nghĩa là giảng pháp trước đông đảo thính chúng trong một giảng đường. Những buổi
thảo luận giản dị về pháp giữa đôi ba người cũng là thuyết pháp, với điều kiện
là người thuyết không mong đợi có được quà cáp hay bất cứ sự biếu xén gì. Sách
tấn những người mộ đạo, cả trẻ lẫn già, dạy những bộ môn học thuật, thủ công
hay kỹ nghệ có tính chất vô tội, đọc to lời dạy của Đức Phật cho mọi người
nghe, đều xứng đáng để gọi là thuyết pháp - Dhammadesanā cả..
TRI KIẾN CHÂN CHÁNH - Diṭṭhijukamma
Có tri kiến chân chánh, ngay
thẳng, chính trực được gọi là diṭṭhijukamma (diṭṭhi: kiến, ujukamma: chính trực). Tri
kiến là quan niệm của một người về sự vật dựa trên trí hiểu biết của người đó.
Khi quan niệm ngay thẳng hay chân chánh, nó được gọi là chánh kiến hay hiểu biết
chân chánh (sammādiṭṭhi). Nếu một tri kiến sai lạc, thì gọi là tà kiến (micchadiṭṭhi).
Bạn hãy xét kỹ những điều sau:
1. Thiện nghiệp và ác nghiệp;
2. Quả tốt và xấu của những
nghiệp ấy;
3. Kiếp sống hiện tại và những
kiếp sống tương lai là do những thiện nghiệp và ác nghiệp của một người quyết định;
4. Có các vị chư thiên (devas)
và phạm thiên (brahmas)
5. Người nào thực hành theo thánh
đạo và đắc các bậc thiền, thần thông hoặc trở thành các vị Alahán.
Nếu sau khi suy xét sâu xa, bạn
thấy rằng năm điều kể trên là những sự thực, tin là chúng thực sự có mặt, thời
bạn có chánh kiến (sammādiṭṭhi). Đây cũng gọi là tri kiến chân chánh (diṭṭhijukamma)
và nghiệp sở hữu trí (kammasakatā-ñāna, do chữ kamma: nghiệp; saka: tài sản
riêng của một người; ta: chúng sinh; ñāna: trí hay sự hiểu biết). Nói chung, với
sự hiểu biết rằng chỉ có thiện nghiệp và bất thiện nghiệp mà người ta làm là tài
sản riêng của họ và đi theo họ bất cứ nơi đâu trong tam giới này, là bạn có chánh
kiến.
Nếu bạn loại bỏ tất cả hay bác
bỏ một trong năm điều kể trên xem chúng như phi thực, tức chúng không thực sự hiện
hữu, như vậy bạn đã có tà kiến (micchadiṭṭhi). Do không tin có nghiệp và quả
của nghiệp, người ta không thể nhận ra rằng những con vật cũng là một loại chúng
sinh do quả của nghiệp sinh ra. Đó là lý do vì sao những người này không do dự
khi đoạt mạng sống của những chúng sinh khác. Họ không cảm thấy cắn rứt lương
tâm hay có cảm giác tội lỗi khi làm điều đó vì họ tin rằng không có đời này,
không có đời sau do quả của nghiệp, họ có khuynh hướng tin rằng thế gian cùng với
các hữu tình trong đó là do một “Đấng quyền năng” sáng tạo ra. Chúng ta có bằng
chứng đầy đủ về cuộc đời của đức Phật với những chứng cứ lịch sử. Có bằng chứng
nào như vậy về sự hiện hữu của một con người gọi là “Đấng Quyền năng” hay
không?
* Là một người Phật tử
Chúng ta vừa nói đến tri kiến
chân chánh -diṭṭhijukamma, cũng gọi là chánh kiến - sammādiṭṭhi. Cho
đến lúc này chúng ta cũng chưa thể nói rằng mọi người có chánh kiến đều là Phật
tử cả. Người theo Ấn giáo cũng tin vào nghiệp và quả của nghiệp song họ vẫn
không phải là Phật tử. Chỉ những người nào tầm cầu sự quy y nơi đức Phật, Giáo
Pháp (Dhamma) và chư Tăng (Saṅgha) mới là những Phật tử đích thực. Bạn phải công bố,
“Con xin quy y đức Phật, Giáo Pháp và chư Tăng” hoặc bằng tiếng Pāli hoặc bằng
một thứ tiếng nào khác cũng được. Chỉ sau khi quy y nơi Tam Bảo (Phật - Pháp -
Tăng), bạn mới có thể tự gọi mình là một Phật tử. Những người không hiểu rõ
pháp Tam quy (Tisaraṇagamana) như các trẻ em chẳng hạn, cũng có thể xem như
Phật tử nếu họ tự hiến dâng đời mình cho Tam Bảo theo truyền thống gia đình.
* Làm thế nào để có tri kiến chánh
trực
Chánh kiến và nghiệp sở hữu
trí (kammassakatā ñāṇa) là đồng nghĩa với tri kiến chánh trực (diṭṭhijukamma).
Khi bạn tự mình quán xét hay suy tư trên nghiệp và quả của nghiệp, suy tư trên hiện
thực của các kiếp sống quá khứ và vị lai, bạn thành tựu tri kiến chánh trực.
Khi bạn ghi nhớ trong tâm, lúc sắp thực hiện việc bố thí và giữ giới, rằng những
việc làm cao quý như bố thí và giữ giới sẽ đem lại quả lành trong những kiếp sống
tương lai, bạn đã phát triển tri kiến chánh trực. Khi bạn làm việc thiện khác với
sự hiểu biết về nghiệp và quả của nghiệp cũng sẽ có giá trị như vậy. Nói chung,
lòng nhân từ có mặt trong mọi hình thức của thiện sự được nâng lên cao nhờ tri
kiến chánh trực (diṭṭhijukamma).
(Sưu tầm)