Thọ dịch từ chữ
Pali: Vedana, Tây âu dịch là sensation. Giáo sư Francisco Varela, một nhà khoa học
tâm não, đệ tử của Đức Đạt Lai Lạt Ma dịch là sensation/sentiment. Tôi thấy ông
hoàn toàn có lý và xin đề nghị dịch thành CẢM TÍNH hoặc giữ nguyên chữ THỌ,
nhưng nên hiểu rằng thọ bao gồm vừa cảm giác vừa tình cảm lẫn cảm xúc. Cảm giác
diễn tả khía cạnh vật thể (physique) còn tình cảm diễn tả khía cạnh tâm lý
(psychologique) của chữ Thọ.
1.-Về bản chất, thọ
là :
- 1 tâm sở trong
52 tâm sở, thuộc loại biến hành, nghĩa là có mặt trong tất cả các loại tâm.
- 1 uẩn trong 5 uẩn
(sắc, THỌ, tưởng, hành, thức).
- 1 duyên trong Thập
nhị nhân duyên … xúc ->THỌ ->ái.
2.-Về ý nghĩa, Thọ
là một cảm tính bao gồm cảm giác, tình cảm và xúc cảm. Đây chính là sự đánh giá
tình cảm (évaluation affective) xuyên qua các cảm giác ; vì từ những cảm giác dễ
chịu hay khó chịu, sung sướng hay buồn khổ mới nãy sanh ra những tình cảm dính
mắc hay xa lánh. Chúng ta không nên hiểu thọ là thọ nhận hoặc thụ nhận, điều
này có thể dẫn đến hiểu lầm là tri giác (perception).
3.-Về phân loại:
Phân loại theo tạng
Kinh:
- với thời gian :
thọ HIỆN TẠI, thọ QUÁ KHỨ, thọ VỊ LẠI
- với không gian : Thọ Bên Ngoài: da, bắp
thịt, gân khớp …Thọ Bên Trong: nội
tạng, xương , óc não…
- thọ THÔ hay TẾ:
Thô là thọ Thân/ thọ Tế là thọ tâm
- thọ LIỆT hay THẮNG:
Liệt là khó chịu, đau đớn/Thắng là dễ chịu hoặc Xả
- thọ XA hay GẦN:
tuỳ theo đối với thời gian hiện tại hay không gian ở đây
Phân loại theo tạng Luận:
- theo 2: thọ
thân, thọ tâm.
- theo 3: dễ chịu,
khó chịu, trung tính.
- theo 5: thân dễ
chịu (Lạc), tâm dễ chịu (Hỉ), thân khó chịu (Khổ), tâm khó chịu (Ưu),Thân tâm
trung tính (Xả)
- theo 6: cảm giác
của MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN, Ý.
- theo 18: 6 cảm
giác trên X 3 tính cách dễ chịu, khó chịu, Xả.
- theo 36, theo 108 …
ÁP DỤNG, THỰC HÀNH
:
a- Trong đời sống
cũng như khi thực hành thiền, chúng ta chỉ cần biết đến Thọ hiện tại, còn thọ
quá khứ và thọ tương lai thuộc về tưởng, chỉ là sự nhai lại (rumination) của một
đau đớn khổ sở của quá khứ hoặc là sự tưởng tượng của một đau khổ chưa đến.
b- Nhận diện khổ
- Thân tâm ta có
thật sự bị một cơn đau đớn, khổ sở đang hành hạ, dày xéo không? Hay đây chỉ là
một niềm đau quá khứ đang trở lại, một nổi khổ tương lai do nghĩ tưởng.
- Cái đau đang ở
đâu, bên trong hay bên ngoài, thuộc thân hay thuộc tâm, mức độ khó chịu hay đau
đớn?
- Mô tả dạng thái
cái đau như thế nào?
c- Quan sát Thọ :
Sanh khởi như thế nào, diễn biến ra sao ? và chấm dứt hay chưa ?
4.-Biện giải về Thọ:
Thọ rất quan trọng
cho sự tu tập, là lối thoát dẫn ra khỏi (vòng) luân hồi . Thật vậy trong Định
luật Thập Nhị Nhân Duyên mà Đức Phật đã tìm ra, ta thấy Xúc trợ duyên sinh ra
Thọ, rồi Thọ trợ duyên sinh ra Ái; nhưng Thọ cũng có thể trợ duyên sinh ra VÔ
ÁI (không thích) tuỳ theo tác ý ngay vào lúc ta cảm thọ.
*Nếu ta cảm nhận một
cảm giác dễ chịu, liền tức khắc ÁI sẽ sanh lên. Đó là thói quen lâu đời tập nhiễm,
mà khi tu tập ta cần chuyển đổi.Ái là sự ưa thích, thèm muốn, tham lam, là tâm
tham. Chúng ta thèm muốn 6 trần là những đối tượng của 6 căn. Chúng ta muốn chúng
êm ái, dễ chịu theo ý thích của mình. Chúng ta muốn có trở lại và càng ngày
càng muốn nhiều hơn nữa những cảm giác thích thú ấy .
*Nếu là cảm nhận một
cảm giác khó chịu, đau đớn, buồn khổ thì VÔ ÁI sẽ sanh lên, VÔ ÁI là sự bực bội,
bức rức, bất bình, chối bỏ, tức giận đó là tâm sân.
Tham hay Sân đều đưa tới chấp thủ (THỦ), rồi tạo
nghiệp (HỮU). Một đàng tạo nghiệp tham (trộm cướp, lường gạt, gian lận, tham
nhũng, hối lộ, độc quyền). Một đàng tạo nghiệp Sân (oán hận, chưởi rủa, đánh đập,
đàn áp, chém giết, tiêu diệt). Cả hai đàng đều dẫn vào luân hồi (SINH). Sinh là
điều kiện để đưa tới LÃO TỬ. Rồi cứ như thế vòng luân hồi lại tiếp diễn.(sưu tầm)