2/07/2020

THỨC (VINNANA)

Chữ THỨC dịch từ chữ Pali là Vinnana. Tây Âu dịch là conscience, consciousness.
- Thức là uẩn thứ 5 trong ngủ uẩn : Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, THỨC.
- Thức là duyên thứ 3 trong Thập Nhị Nhân Duyên : Vô minh -> Hành ->  THỨC …
- Là thức ăn thứ 4 trong 4 loại thức ăn
* Đoàn thực : là thức ăn vật chất nuôi dưỡng thân thể.
* Xúc thực : là thức ăn cho 6 giác quan : Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.
* Tư Niệm thực : chính là nghiệp nuôi dưỡng sự luân hồi.
* THỨC THỰC : là thức tái sanh nuôi dưỡng danh sắc lúc thụ thai, hoặc thức ăn nuôi dưỡng tinh thần.
- Là Giới thứ 18 trong 18 giới
* mắt -  sắc  -    nhãn thức
* tai   -  thinh  -  nhĩ thức
* mũi  -  hương -  tỉ thức
* lưỡi  -   vị    -     thiệt thức
* thân   -   xúc   -    thân thức
* ý      -    pháp  -   Ý THỨC
- Là 8 thức trong Duy Thức Học của Phật Giáo Bắc Truyền : Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân, Ý thức, Mạt na thức, A lại da Thức ( Tiềm thức)
- THỨC (Vinnana) chính là TÂM (Citta), là Ý (Mano) theo truyền thống Nam Truyền, 3 chữ nầy đồng nghĩa với nhau, nhưng tùy theo ngữ cảnh có thể được xử dụng khác nhau .Trong tiếng Hán Việt, chúng ta thường gặp 3 danh từ kép Tâm thức, Ý thức, Tâm ý.

1- về bản chất : thức bao gồm 2 ý nghĩa :
- Ý thức hay cửa ý là cánh cửa mở vào thế giới bên trong. Trong ý nghĩa  nầy, ý thức tương đương với nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức.
- Trong ý nghĩa thứ 2 , thức bao gồm tất cả các loại tâm. Theo Vi Diệu Pháp có tất cả 89 tâm (hoặc 121 tâm tùy theo kể thêm những yếu tố chứng thiền trong các loại tâm siêu thế hay không).

2- về ý nghĩa : Thức là thành phần tinh thần cấu tạo nên con người và được qui định bởi 4 sắc thái :
a-        Sắc thái thuộc cảm tính (sensitivité = thọ) trong đó bao gồm cảm giác, tình cảm và cảm xúc.
Tình cảm thì có 3 loại : ưa thích, ghét bỏ, dửng dưng
Ba loại tình cảm nầy xuất xứ từ ba loại cảm giác : dễ chịu, khó chịu và trung tính.
Cảm xúc thì có nhiều loại, chủ yếu có 5 loại chính : vui, buồn, sợ hãi, tức giận, lo âu. Không có tâm nào mà không biểu hiện qua 1 trong 5 cảm thọ : Hỉ, Lạc, Ưu, Khổ, Xả.

b-   Sắc thái thuộc tri giác (perception = tưởng)
Tri giác là khả năng nhớ lại, hình dung, diễn dịch một hình ảnh, âm thanh mùi vị, cảm giác, xúc chạm hay một biểu tượng đã được biết từ trước.
c-         Sắc thái thuộc hành động (formations mentales = hành)
Ý nghĩ, lời nói và hành động là kết quả của sự làm việc của tâm thức.
Đối với Phật Giáo, sắc thái hành động nầy rất quan trọng, khi tâm hành động với một ý định (intention) là nó đã tạo nghiệp ; tùy theo ý định nầy thiện hay bất thiện thì sau đó sớm muộn quả sẽ trỗ tốt hay xấu.
 d-   Sắc thái thuộc về nhận thức (conscience =  thức) chúng ta có :
 - Năm thức : nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân. Năm thức nầy chỉ hoạt động khi có đối tượng xuất hiện từ thế giới bên ngoài.
- Ý thức hoạt động khi có cảnh bên ngoài hoặc bên trong.
- Tiềm thức (subconscience) hoạt động khi không có cảnh, tâm phải tự tạo ra cảnh bằng cách lấy chất liệu từ dòng tâm Hữu Phần (= A lại Da thức) (hay từ những chủng tử lưu truyền từ tiền kiếp) ( như trong lúc ngủ say, bất tỉnh, gây mê)
Khi hiểu rõ tâm thức, ta mới có thể dễ dàng rèn luyện và thanh lọc tâm.
Như đứng trước một đối tượng ghi nhận được (nhận thức) tùy theo hành xử của tâm (hành động) tâm sẽ biểu hiện dưới một trạng thái vui, buồn, sướng, khổ hay thản nhiên (cảm tính) và đồng thời tạo nghiệp hay không. Tâm vừa có tính cách thụ động (tâm Quả) và chủ động (tâm nghiệp) ; vừa bao hàm tính cách vật thể và tâm lý  (psychophysique). Chẳng hạn ta nói nhãn thức là một tâm được ghi nhận xuyên qua giác quan mắt. Cái hinh ảnh nầy tự nó không mang tính chất vui buồn, nhưng nếu nó lại gây ra một phản ứng ưu sầu, thương ghét là tùy theo thái độ hành xử của chủ thể trước đối tượng. Đúng như câu thơ “ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Trước một đối tượng xấu mà tâm vẫn hành xử một cách thản nhiên tốt đẹp, đó mới là thái độ của người thiện trí có tu tập.

3- về phân loại:
 a-Theo Tang Kinh :
- Thức quá khứ, hiện tại, vị lai :
* Thức quá khứ : thức của một kiếp sống trước hoặc của một thời đã qua.
* Thức hiện tại : thức của kiếp sống nầy hoặc của thời hiện tại.
* Thức vị lai : thức của kiếp sống sau hoặc của một thời sắp tới.
- Thức Nội và Ngoại :
* Thức Nội khi không có cảnh bên ngoài (tâm chủ quan như tâm Hộ Kiếp Alaida thức).
* Thức Ngoại : thức khi có cảnh bên ngoài (tâm khách quan : như nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức…)
- Thức Thô và Tế :
* Thức Thô là tâm không có thiền hoặc tâm Dục giới : có 54loại
* Thức Tế : là tâm có thiền,hoặc tâm Sắc giới và tâm Vô Sắc giới có27 loại
- Thức Liệt và Thắng :
* Thức Liệt : là tâm bất thiện
* Thức Thắng : là 12 tâm thiện “Dục giới tịnh hảo Hợp Trí” ; hoặc 27 tâm “Đáo Đại” ; hoặc 8 tâm “Siêu thế” .
- Thức Xa và Gần : là tùy theo đối với thời gian hiện tại hoặc không gian ở đây

b- Phân loại theo Vi Diệu Pháp:
I.Phân loại tâm theo cảnh giới (Dhàtu), có 4 loại:
1. Tâm Dục Giới
2. Tâm Sắc Giới
3. Tâm Vô Sắc Giới
4. Tâm Siêu Thế
II.Phân loại tâm theo nhân (hetu), có 2 loại:
1.   Tâm Vô Nhân
2.   Tâm Hữu Nhân
III. Phân loại tâm theo tánh, có 3 loại tâm:
1. Tâm thiện
2. Tâm bất thiện
3. Tâm vô ký (không cho quả : Tâm quả: 52 và Tâm duy tác: 20)
IV.Phân loại tâm theo giống (jāti), có 4 loại tâm :
Tâm thiện: 37, Tâm bất thiện: 12, Tâm quả: 52, Tâm duy tác: 20.
V.Phân loại tâm theo nhiệm vụ ( kicca), có 14 nhiệm vụ:
1.Tái sanh; 2.Hộ kiếp (hữu phần); 3.Tử; 4.Hướng tâm; 5.Thấy-6.Nghe-7.Ngửi-8.Nếm-9.Đụng; 10.Tiếp thâu; 11.Suy đạc; 12.Xác định; 13.Tốc hành (thục); 14.Thập di (mót).
VI.Phân loại tâm theo chủ quan/khách quan:
- Tâm chủ quan: tái sanh, hộ kiếp, tử;
- Tâm khách quan: khán ngũ môn, ngũ song thức, tiếp thâu, quan sát, xác định, tốc hành, mót.
VII. Phân loại tâm theo thiền:
- Tâm thiền
- Tâm phi thiền
VIII.Phân loại tâm theo căn môn (dvāra), có 6 cửa:
Nhãn môn, Nhĩ môn, Tỹ môn, Thiệt môn, Thân môn, Ý môn.
Có tâm nuơng theo một môn ( như 5 thức), có tâm nương 5 môn, hoặc 6 môn, hoặc không nương theo môn nào cả ( như tâm Tục sinh, Hộ kiếp, Tử)
IX.Phân loại tâm theo đối tượng (ārammaa, ālambana), có 6 loại:
Đối tượng của sự thấy, đối tượng của sự nghe, đối tượng của sự ngửi, đối tượng của sự nếm, đối tượng của sự đụng chạm, đối tượng của sự hay biết.
X.Phân loại tâm theo trú căn (vatthu), có 6 loại:
Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn, Thân căn, Ý căn.
XI.Phân loại tâm theo  Thọ(Vedana) có 5 loại:
Thọ khổ, Thọ lạc, Thọ ưu, Thọ hỷ, Thọ xả.

4- Luận giải: 
Theo như trên chúng ta đã thấy HÀNH là duyên để cho THỨC sinh khởi. Tới phiên nó, THỨC sẽ trợ duyên cho DANH SẮC sinh khởi. HÀNH -> THỨC -> DANH SẮC
Ở đây chúng ta phải phân biệt hai thời : thời tái sinh và thời bình nhật (đời sống hằng ngày).
a/ Trong thời tái sinh :
- thức ở đây chính là 19 tâm quả làm việc tái sinh (tâm tục sinh)
- Danh Sắc ở đây là 35 sở hữu hợp trong 19 tâm quả tái sinh và Sắc là Sắc nghiệp đồng sanh với tâm tục sinh.(noãn thụ thai + tâm tục sinh)
 b/ Trong thời bình nhật :
- Thức bình nhật là 32 tâm quả hiệp thế hoặc 29 tâm nghiệp.
- Danh bình nhật là 35 sở hữu hợp trong 32 tâm quả bình nhật. Sắc bình nhật là sắc do tâm sanh từ 18 tâm quả bình nhật và Sắc nghiệp sanh từ 12 bất thiện + 8 tâm đại thiện + 5 thiền sắc giới ở những kiếp trước.

KẾT LUẬN
Lâu nay ngũ uẩn được hiểu như là một tập hợp của 5 yếu tố tạo thành con người : sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Dưới ánh sang của Vi Diệu Pháp và nhờ sự nghiên cứu của khoa học tâm não (neuroscience) gần đây, chúng ta có thể đối chiếu những kiến thức khoa học với Phật Pháp và từ đó có thể hiểu biết một cách chân xác hơn.
Ngủ uẩn có thể được hiểu như là một tiến trình nhận thức từ sắc -> thọ -> tưởng -> hành  -> Thức.
Nói như thế để giảng lược vấn đề cho dễ hiểu, nhưng thật ra từ sắc tới thọ, thọ tới tưởng, tưởng tới hành, hành tới thức, ở mỗi giai đoạn trãi qua nhiều diễn biến, nhiều lộ trình và những lộ trình tâm nầy chồng chất lên nhau, cái sau đuổi cái trước để cho kết quả cuối cùng là một hình ảnh được nhận ra, một tình cảm được khơi dậy, một ý thức hay tư tưởng được phát sinh.
Những diễn trình nầy không phải chỉ xảy ra trong kiếp hiện tại mà nó đã từng xảy ra trong kiếp quá khứ và sẽ còn xảy ra trong kiếp vị lai. Chính vì thế chúng trở thành đối tượng của một sự chấp thủ kiên cố. Ngày nào chúng ta phá vở được sự chấp thủ nầy thì chân trời giải thoát mới hiển lộ ra trước mắt, ngày đó chúng ta có thể nói Ngũ Uẩn Thủ hay Ngã chấp Thủ ( hay Thân Kiến) không còn chi phối ta được nữa.
(Sưu tầm)