7/29/2020

Đoạn trừ phiền não (Sưu tầm)

1- Dục Lậu (kāmāsava).

Nghĩa chữ của “dục lậu” là do dục, bởi dục mà tươm rỉ ra bợn nhơ phiền não.

Dục lậu còn gồm những từ đồng một thuộc tính như: Ô nhiễm, hư hỏng, đồi bại, dơ bẩn, độc hại, bợn nhơ, xú uế, mê tối, lầm lạc… Mọi luyến ái dục lạc ngũ trần, đắm say vật chất đều thuộc về dục lậu.

2- Hữu Lậu (bhavāsava).

Chỉ cho sự tham ái, đeo dính, muốn có mặt, muốn tồn tại trong các cảnh giới. Nói cách khác – bhava (hữu) là hạt giống, là chủng tử; nó là tên gọi khác của hành (ái, thủ, hữu) đưa đến sanh, lão tử ở trong 12 duyên khởi. Với nghĩa này nên có ba hữu: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.

3- Kiến Lậu (diṭṭhāsāva).

Là gồm chung là 62 tà kiến như đã được đề cập đến trong kinh Brāhmajāla (Phạm võng). Do sự luyến ái ý tưởng, tư tưởng; các quan điểm, lý thuyết, triết lý cục bộ, giới hạn, lầm lạc, nghiêng lệch… lại còn chấp thủ vào chúng nữa nên đưa đến đối kháng, tranh chấp, bảo vệ. Đấy chính là kiến lậu. Là những phiền não thuộc về sở tri, kiến thức, quan niệm.

Nếu dục lậu, hữu lậu thuộc về phiền não tâm thì kiến lậu thuộc về phiền não trí – chúng tươm rỉ mọi dơ uế, bẩn thỉu từ thế giới tinh thần.

4- Vô Minh Lậu (avijjāsava).

Là trạng thái vô minh liên quan đến Tứ Diệu Đế, ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên… Đấy là không biết gì về khổ, về nguyên nhân khổ, sự diệt khổ và con đường khổ diệt. Nói theo thiền quán minh sát là không biết gì về tiến trình sinh diệt của ngũ uẩn, của 12 duyên khởi; không biết rõ, thấy rõ “cái ta” là giả ngã, không thực tính, không thực thể, là tánh không.

Cách đoạn trừ (Kinh Tất cả Lậu hoặc)

1) Trừ diệt lậu hoặc bằng tri kiến:
Phàm phu do không tuệ tri nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.
Không cần tác ý mà lại tác ý: do vậy 3 lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa sanh được sanh khởi, hay đã sanh được tăng trưởng.
Tác ý các pháp cần tác ý: nhờ đó, 3 lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa sanh không sanh khởi, hay đã sanh được trừ diệt.
Hậu quả của không như lý tác ý: sáu tà kiến (còn gọi kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược) xuất hiện: 1) Ta có tự ngã”, 2) Ta không có tự ngã, 3) Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã, 4) Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã, 5) Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã, 6) Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại.

Do bị tà kiến trói buộc, phàm phu không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Tà kiến:

Thường kiến có 3:

1-Tin có một đấng chí tôn tạo ra muôn loài.

2- Tin vào một linh hồn thường hằng bất biến có một cái tôi đi từ đời này qua đời khác .

3- Tin có một thế giới vĩnh hằng, miên viễn, vĩnh cửu trường sinh bất lão.;

Đoạn kiến có 3:

Akiriyaditthi : Vô Hành Kiến - Cho rằng trên đời không có thiện ác muốn làm gì thì làm, không có để lại kết quả gì hết, thiện ác giống nhau.

 Ahetukaditthi: Vô Nhân Kiến
Cho rằng mọi thứ ở đời này ngẫu nhiên mà có. Thay vì những người biết đạo thì hiểu rằng mọi thứ ở đời này đều do các duyên, duyên tốt hoặc là duyên xấu, duyên tích cực hoặc là tiêu cực. Mọi thứ ở đời đều do duyên mà có, rồi cũng sẽ do duyên mà mất, không có gì trên đời này mà ngẫu nhiên mà có.

 Natthikaditthi: Vô Hữu Kiến .
Cho là cái gì mình không thấy được, không hiểu được, không chứng minh được thì cái đó không có ở đời.

Nhờ như lý tác ý: “Đây là khổ,” “Đây là khổ tập,” “Đây là khổ diệt,” “Đây là con đường đưa đến khổ diệt,” ba kiết sử là thân kiến, nghi, giới cấm thủ được trừ diệt. Đây gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.

2) Trừ diệt lậu hoặc bằng phòng hộ:
Với như lý giác sát, người trí sống phòng hộ mắt, tai, mủi, lưởi, thân và ý; nhờ đó, các lậu hoặc được diệt trừ và nhiệt não không còn.

3) Trừ diệt lậu hoặc bằng thọ dụng:
a) Y phục để che đậy sự trần truồng, ngăn ngừa lạnh, nóng, ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát.
b) Thực phẩm không phải để hưởng thụ, thoã mãn, tự làm đẹp thân, mà chỉ để thân được sống lâu và sống khoẻ, hỗ trợ con đường tu tập, nhờ đó diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, không còn lỗi lầm, sống được an ổn.
c) Sàng toạ chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.
d) Dược phẩm để trị bệnh, ngăn chận các cảm giác khổ đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.

4) Trừ diệt lậu hoặc bằng kham nhẫn:
a) Kham nhẫn khí hậu và thời tiết: lạnh, nóng.
b) Kham nhẫn thực phẩm: đói, khát.
c) Kham nhẫn ngoại duyên: sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát.
d) Kham nhẫn thị phi: kham nhẫn những cách nói mạ lỵ, phỉ báng.
e) Kham nhẫn cảm thọ khổ của thân (thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người).

5) Trừ diệt lậu hoặc bằng tránh né:

a) Tránh né thú dữ: voi, ngựa, cọp, rắn, chó sói v.v…
b) Tránh né ngoại cảnh: khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước.
c) Tránh né nơi chốn: những trú xứ không nên lai vãng, những chỗ ngồi không đáng ngồi.
d) Tránh né người bất thiện: bạn bè hay người ác độc nếu giao du thì bị người trí nghi ngờ, khinh thường.

6) Trừ diệt lậu hoặc bằng trừ diệt:
a) Dục niệm: tư duy, ý niệm hướng về dục, ước muốn thoã mãn dục tính, lệ thuộc dục vọng; xem khoái lạc giác quan là cứu cánh của cuộc sống.
b) Sân niệm: tư duy, ý niệm hay khuynh hướng bực tức, giận dữ, chống đối đối tượng, thể hiện qua lời tục tĩu, thô bạo, thiếu ái ngữ; qua hành động nóng nải và các biểu hiện nôn nóng.
c) Hại niệm: tư duy, ý niệm hay khuynh hướng tiêu diệt, cản phá đối tượng không thích; hãm hại, trù dập, ức hiếp người khác.
d) Bất thiện, đã khởi lên, đang hiện hữu hay sẽ có mặt; không để chúng tồn tại lâu dài trong ý nghĩ và việc làm.

7) Trừ diệt lậu hoặc bằng tu tập (bhāvanā):
Ngoài hỗ trợ bằng phương pháp đoạn trừ lậu hoặc trên nền tảng ngăn ngừa các tâm lý dục, sân, hại và các pháp bất thiện, hành giả còn phải vận dụng 7 yếu tố giác ngộ: a) chánh niệm, b) trạch pháp, c) tinh tấn, d) hoan hỷ, e) khinh an, f) định tĩnh, g) xả ly, hướng đến viễn ly, ly tham và giải thoát.

Bệnh Nào Thuốc Nấy: những lậu hoặc nào phải do tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do phòng hộ được đoạn trừ đã được phòng hộ đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do thọ dụng dược đoạn trừ đã được thọ dụng đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do kham nhẫn được đoạn trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tránh né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do trừ diệt được đoạn trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tu tập được đoạn trừ đã được tu tập đoạn trừ. Nhờ đó, con người được sống trong phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau.

4/13/2020

Giới thiệu về Tam Tạng Kinh Điển


Trích dẫn từ “Hướng Dẫn Đọc Tam Tạng Kinh Điển”- Gs. U KO LAY

Tam Tạng Thánh Điển là bộ sưu tập Văn Chương Pali lớn trong đó tàng chứa toàn bộ Giáo Pháp của Đức Phật Gotama đã tuyên thuyết trong suốt bốn mươi lăm năm từ lúc ngài Giác Ngộ đến khi nhập Niết Bàn.
Pháp của Đức Phật bao quát một lãnh vực rộng về nhiều chủ đề và được làm thành từ những lời sách tấn, giải thích và pháp lệnh.
Một cách phân loại và hệ thống hoá nào đó đã được sử dụng từ lâu đời giúp ghi nhớ kỹ, bởi vì Giáo Pháp của Đức Phật chỉ được truyền miệng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Ba tháng sau khi Đức Phật Niết Bàn, Chư vị Đại Đệ Tử Phật tụng lại tất cả Giáo Pháp của Đức Từ Phụ, sau khi sưu tập chúng một cách có hệ thống và xếp loại chúng cẩn thận dưới những tiêu đề khác nhau thành những phần đặc biệt.
Những bài pháp và bài kinh nhằm cho cả tu sĩ lẫn cư sĩ, được Đức Phật giảng vào nhiều cơ hội khác nhau (cùng với một ít bài kinh được các đệ tử xuất sắc của ngài thuyết), được sưu tập và xếp loại thành những phần lớn được biết như Tạng Kinh.
Tạng lớn trong đó gồm những pháp lệnh và những lời sách tấn của Đức Phật về các phẩm hạnh, và thu thúc cả hai hoạt động thân và khẩu của tỳ khưu và tỳ khưu ni, hình thành giới luật cho họ được gọi là Tạng Luật.
Phương diện triết lý của Giáo Pháp Đức Thế Tôn sâu sắc hơn và trừu tượng hơn những bài pháp của Tạng Kinh, được xếp loại dưới tạng lớn gọi là Tạng Thắng Pháp. Thắng Pháp liên quan đến Chân Lý Tuyệt Đối, giải thích Những Chân Lý tuyệt đối và khám phá Tâm và Vật Chất và mối liên quan giữa chúng.
Tất cả những lời Phật dạy hình thành chủ đề và bản chất của Pali Canon, được chia thành ba phần gọi là Piaka- nghĩa đen là cái giỏ. Từ đó Tipiaka có nghĩa là ba cái giỏ hay ba tạng riêng biệt tàng chứa Giáo Lý của Đức Phật. Ở đây ẩn dụ 'cái giỏ' không có ý nghĩa nhiều như chức năng 'cất chứa' bất cứ thứ gì được đặt vào trong đó nhưng nó được sử dụng như một vật có thể chấp nhận được trong đó những pháp được trao truyền từ người nầy sang người khác như mang đất từ nơi khai thác bằng một đoàn công nhân làm việc theo dây chuyền.
Tam Tạng Thánh Điển được chia một cách có hệ thống và truyền từ đời nầy sang đời khác cùng với Chú Giải hình thành bộ sưu tập lớn về những tác phẩm văn học mà chư tu sĩ Phật Giáo phải học, nghiên cứu và ghi nhớ trong việc hoàn thành bổn phận học tập nghiên cứu.

Tạng Luật - Giới Luật và những Qui tắc tiến hành dành cho Tăng Đoàn
Tạng Luật được hình thành từ những điều luật được đặt ra để chỉnh đốn đạo đức tác phong của chúng đệ tử Đức Phật, những người đã được chấp nhận như tỳ khưu, tỳ khưu ni vào Tăng Đoàn. Những luật nầy gồm cả những pháp lệnh có căn cứ của Đức Phật về những phương thúc tác phomg và thu thúc những hành động về cả thân và khẩu. Chúng đề cập đến việc vi phạm giới luật, và có nhũng trườnợp hợp khác nhau của thu thúc và sự khiển trách tuỳ theo tính chất của tội.
Tạng Kinh
Tạng Kinh là bản sưu tập gồm tất cả những bài Kinh đều do Đức Phật thuyết vào những lúc khác nhau. (Một ít bài Kinh được thuyết bởi vài đệ tử xuất sắc của Đức Phật, như Đại Đức Sāriputta, Mahā Moggallāna, Ānanda, v.v.. cũng như những bài tường thuật cũng được bao gồm trong những cuốn sách của Tạng Kinh.) Những bài thuyết pháp của Đức Phật biên soạn lại với nhau trong Tạng Kinh được thuyết giảng cho thích hợp với những tình huống khác nhau, cho những người có căn cơ hoàn toàn khác nhau. Mặc dầu bài pháp hầu như có ý cho lợi ích của chư tỳ khưu, và liên quan đến việc thực hành đời sống trong sạch và với những lời giải thích về Giáo Pháp, cũng có nhiều bài pháp khác liên quan đến sự tiến bộ vật chất và tinh thần của cư sĩ.
Tạng Kinh đem lại ý nghĩa của Giáo Pháp của Đức Phật, diễn tả chúng một cách rõ ràng, che chở và hộ trì chúng chống lại sự xuyên tạc và hiểu lầm. Chỉ như sợi dây phục vụ như sợi chỉ đỏ hướng dẫn người thợ nề trong công việc của họ, chỉ như sợi dây bao quanh những đoá hoa cho hoa khỏi rơi hay khỏi tan tác, cũng như thế đối với phương pháp của Kinh, ý nghĩa những lời dạy của Đức Phật có thể làm sáng tỏ, nắm vững, hiểu đúng và cho sự bảo đảm hoàn hảo khỏi bị hiểu lầm.
Tạng Kinh được chia thành năm bộ sưu tập riêng biệt được biết như bộ (Nikāya). Đó là Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh và Tập Hợp Bộ Kinh (Tiểu Bộ Kinh).

Tạng Thắng Pháp
Bộ Pháp Tụ (Dhammasanganī), cuốn sách đầu tiên của Thắng Pháp, và Paṭṭhāna, cuốn cuối cùng, là hai cuốn quan trọng nhất trong bảy cuốn của Thắng Pháp, cung cấp như là cốt tử tinh hoa của Thắng Pháp:
Bộ Pháp Tụ - Dhammasangani (Classification of Dhamma).
Bộ Phân Tích (Phân Biệt) -  Vibhanga (Divisions).
Bộ Chất Ngữ (Giới Thuyết)  -  Dhatukatha (Discourse on Elements).
Bộ Nhân Chế Định (Nhân Thi Thuyết) - Puggala Pannatti (The Book on Individuals ).
Bộ Ngữ Tông (Biện Giải) - Kathavatthu (Points of Controversy).  
Bộ Song Đối (Song Luận) -  Yamaka (The Book of Pairs).
Bộ Vị Trí (Phát Thú) -  Patthana (The Book of Causal Relations ).

3/31/2020

Văn Tư Tu



Khi nghe người khác khen bạn hay, bạn giỏi, tâm bạn khởi vui mừng hớn hở? Và khi nghe những lời tán thán khen ngợi đó, bạn có bao giờ lắng tịnh tâm tư quán sát lời khen đó là chân thật hay chỉ là lời khen trang sức? Hoặc nếu nghe người khác phê bình chê bai, hủy báng bạn, bạn khởi tâm tức giận, buồn phiền? Hay vẫn tâm bình khí hòa định tĩnh quán xét lời chê bai đó là hợp lý cảnh tỉnh bạn, hoặc giả nó chỉ là lời thị phi!
Nghe người khác nói chuyện hoặc tự mình định làm công việc gì, bạn có thói quen suy nghĩ chín chắn rồi mới thực hành? Dẫu rằng sự suy nghĩ của con người phản ứng nhạy bén, nhanh chóng; nhưng nếu không thông qua định tĩnh tư duy quán xét sẽ không tránh khỏi sự sơ hở sai sót, nhầm lỗi.
Có người cố chấp theo cái suy nghĩ của riêng mình, không chịu nghe theo lời hay ý thiện của người khác, do vậy, khi nghe người khác thảo luận góp ý, anh ta lấy làm lơ là, không chú tâm lắng nghe, cũng chẳng dụng tâm suy nghĩ. Do vậy, công việc làm rất khó đạt được kết quả hoàn mỹ.
Đức Phật trực đối hạng người có tập tánh thưa thớt đó, từ bi khuyên nhắc: Trong sinh hoạt thường ngày, đối mặt với bất luận sự tình gì chúng ta đều cần nên vận dụng VĂN TƯ TU mới có thể tiến nhập giải quyết sự tình cực chí thông suốt tốt đẹp, và có trải qua VĂN TƯ TU mới có thể đạt được mục tiêu chính xác, an toàn. Bởi vì, VĂN là từ chỗ nghe, chỗ thấy mà sanh trưởng trí huệ. TƯ là từ chỗ tư duy, khảo nghiệm suy xét mà tăng trưởng trí huệ. TU là từ chỗ dụng công tu tập thực hành những điều thấy nghe, thông qua tư duy khảo nghiệm, quán sát mà thành tựu trí huệ.
Các nhà Nho học thường nói: “Học mà không tư duy là học vẹt”. Chỉ tư duy mà không thông qua sự sàng lọc của sự học hiểu thực nghiệm thì sự tư duy đó rất dễ rơi vào tà ngụy. Vô cùng nguy hiểm. Điều đó đã thuyết minh rõ về tầm quan trọng của tam huệ VĂN TƯ TU.
VĂN là lắng nghe người khác nói chuyện, thuyết giảng. Bạn có chuyên tâm nhất ý lắng nghe chăng? Giả như nghe có chỗ ngôn từ, ý nghĩa thiên lệch, bạn có biết chuyển hướng cách nghe không?
Bậc Bồ tát tu hai mươi lăm pháp viên thông; nhĩ căn viên thông là một trong những pháp tu quan trọng. Do vậy, Phật pháp rất chú trọng về pháp môn huân tập “đa văn”. Tai nghe so với mắt nhìn có phần quan trọng không kém. Vật ở quá xa tầm mắt hoặc sát cận tầm mắt thì không thể nhìn thấy được minh bạch, nhưng âm thanh ở xa hoặc ở sát cận tầm tai vẫn có thể nghe được rõ ràng. Những chuyện của quá khứ, mặc dù là không nhìn thấy được nguyên thể hình dạng của chúng như thế nào, nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu biết được khi nghe người khác nói, kể truyền đạt lại. Người ở cách vách tường nói chuyện, mặc dù không nhìn thấy được người, nhưng vẫn có thể nghe được tiếng nói của đối phương.
Thật ra, nghe là một nghệ thuật linh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống, và đòi hỏi chúng ta không ngừng trau dồi học tập kỹ năng thiện xảo “lắng nghe” chơn thực, chính xác. Cái mà gọi là lắng nghe tiếng vỗ tay của một bàn tay, nếu bạn lắng nghe được âm thanh từ vô thanh kia thì ngay phút giây đó bạn đã thành tựu được pháp “nghe sanh trưởng trí tuệ” (Văn sở thành tuệ) rồi!
Điều mà gọi là “Tư sở thành tuệ”, nghĩa là từ chỗ tư duy quán sát những điều thấy nghe mà tăng trưởng trí tuệ; nó đòi hỏi phải có chánh tư duy, thiện tư duy, thanh tịnh tư duy và tư duy sâu sắc, kỹ lưỡng chín chắn; Ý nói rằng phàm làm một sự việc gì đòi hỏi phải có sự suy đi nghĩ lại, khảo tới sát lui ba lượt, sau đó mới thực hành. Trên thế gian người có tiền của được xem là người có nhiều phước báo đáng quý; nhưng người có tư tưởng tư duy trong sáng, chánh trực không những đáng quý mà còn được tôn kính.
Trên thế gian các nhà triết học giải thích ra được nhiều vấn đề của vũ trụ đều là nương vào tâm não tư duy quán sát khảo nghiệm mà khai sáng vấn đề. Tất cả các nhà khoa học kỹ thuật trên thế giới phát minh ra bao nhiêu những khoa kỹ văn minh cũng đều thông qua tư tưởng tư duy, thực nghiệm mà thành tựu. Và biết bao nhà văn học, văn từ phong phú, ý tứ trong sáng, có đủ lực cảm hóa lòng nhân cũng đều là kết quả từ sự tư duy mà thành. Cũng vậy, trong cuộc sống hằng ngày, nếu chúng ta thường biết huân tập tư duy, phản tỉnh, quán sát nội tâm nhận chân được thật tướng của các pháp thì sự tư duy đó rất tự nhiên tăng trưởng thành trí tuệ.
“Tu sở thành tuệ” là gì? Tu, là thực tiễn hành trì theo giáo pháp của Đức Phật chỉ dạy, hoặc hành trì những điều đã học hỏi thấy nghe được từ các bậc thánh nhân, thầy tổ v..v… mà vận dụng tư duy, phản tỉnh sửa đổi ba nghiệp thân, khẩu, ý mình từ những điểm hư xấu, bất thiện, bi quan bế tắc trở thành trong sáng thiện mỹ, lạc quan. Tu có nhiều hình thức như khổ tu, lạc tu, chơn tu, nội tu, cộng tu, tự tu… Sự tu tập được dụ như y phục rách rồi, cần phải vá lại mới có thể mặc được. Phòng xá hư hại cần phải tu sửa lại mới có thể ở được. Cũng vậy, thân tâm con người một khi đã có vết dơ nhớp hoặc có lỗ khuyết hỏng hư hại, đương nhiên càng nên cần phải sửa đổi tu bổ mới đảm bảo được phẩm chất hữu dụng của đời người, đồng thời từ chỗ lập nguyện tu dưỡng sẽ tạo nên động lực vi diệu thăng hoa cuộc sống đến chỗ cực chí mục tiêu.
Đường dài vạn dặm, chỉ cần bạn dụng công khởi chân cất bước thì lo gì không đến đích? Sự nghiệp ngàn muôn, chỉ cần bạn dũng cảm đảm nhận tiến hành thực tiễn thì lo gì sự nghiệp không thành công? Tu hành sẽ thành tựu được nhân phẩm và phong cách trang nghiêm; tu tâm sẽ thành tựu được đạo nghiệp thậm thâm vi diệu; chỉ cần chúng ta kiên tâm quyết chí thực hành, tất nhiên sẽ có quả chứng. Đó là thành quả diệu dụng của “Tu sở thành tuệ”.
Từ cái diệu dụng thực tiễn của VĂN TƯ TU đối với cuộc sống con người, Phật giáo khuyến cáo chúng ta không thể thiếu và không thể xem nhẹ thực tiễn hành trì VĂN TƯ TU, bởi vì có VĂN TƯ TU mới có thể tiến sâu vào cực chí địa linh chánh quả.
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười.

Quá trình văn tư tu
Cái nhìn về đạo chân chính bắt đầu từ văn, tư và tu, gọi là tam học. Văn là học hỏi. Những đệ tử của Bụt (Budha - Đức Phật Thích Ca) gọi là thanh văn (sravaka), là người nghe giáo lý để tu học. Khi nghe giảng dạy về giáo lý, khi đọc Kinh, khi pháp đàm, ta thực tập văn học. Văn học tức là học nghe. Học nghe, ta phải có thái độ cởi mở, phải thao thức muốn hiểu, muốn thực hành, như thế mới gọi là văn học. Còn nếu nghe để đàm luận, nghe chỉ để phê phán và chỉ trích, nghe để chứa chấp kiến thức rồi khoe khoang, đó chưa phải là văn học.
Tư là suy gẫm, tư duy, quán chiếu những điều mình nghe. Ta nghe một điều gì, dù điều đó từ một vị đạo sư nổi tiếng nói ra ta cũng phải tư, tức là phải thẩm xét giá trị ứng dụng của những điều đó. Ta không mù quáng nghe theo vô điều kiện. Sau khi nghe rồi, phải tư. Trong khi đang nghe, không tư, nghe là nghe mà thôi. Nghe xong rồi lúc đó mới quán chiếu, mới suy tư (reflecting). Tư là đem kinh nghiệm, đem trí tuệ, đem khổ đau của mình ra để mà xét nghiệm. Xem thử những điều mình nghe có thể trả lời được những nỗi đau khổ, những thắc mắc, những thao thức của đời mình hay không, như thế gọi là tư học.
Nghe giống như gieo hạt giống vào đất. Thực tập là tưới tẩm cho hạt giống có thể nẩy mầm. Thực tập là tu, giai đoạn thứ ba gọi là tu học. Nếu không đem ra thực tập thì việc nghe không có lợi ích nào cả. Trong quá trình văn, tư, tu về đạo ta sẽ thấy được bản chất của đạo là làm bằng khổ, ta thấy khổ ở trong đạo. đạo Bụt phát sinh là vì cuộc đời khổ đau, cho nên cuộc đời khổ đau là chất liệu làm ra đạo. Sự tỉnh thức, sự thương yêu phát sinh từ khổ đau. đạo và khổ tương tức. Trong quá trình văn, tư và tu chúng ta thấy khổ và tập ở trong đạo. Chúng ta biết rằng tập, những nguyên do làm ra khổ, nếu chuyển hóa được, thì khổ sẽ vắng mặt. Ba yếu tố khổ, tập và diệt có thể nhìn thấy trong đạo. Tâm Kinh nói: "Không đạo, có nghĩa là đạo không có ở ngoài khổ, tập và diệt". Không có cái này thì không có cái kia. Năm chữ "không khổ, tập, diệt, đạo" thuộc về chân đế, đó là sự thật vô lậu. Ngay trong quá trình tiếp xúc với mặt tục đế, ta đã thấy được bản chất của đạo, và chuyển hóa được tập. Nếu thấy cho rõ thì ta ngừng lại ngay, tự nhiên đi tới diệt. Chuyển hóa tập, thành tựu diệt sẽ làm vơi khổ, khiến cho cái khổ biến đi.
Nhờ quá trình văn, tư và tu mà lời nói và hành động của ta mỗi lúc mỗi tương ứng. Ví dụ một người giảng giải rất hay về năm giới, nhưng vẫn chưa thực tập năm giới một cách vững chãi. Nhờ quá trình văn, tư và tu nên sự thực tập năm giới càng ngày càng vững; và lời nói của ta đi đôi với hành động, ngôn hành tương ưng. Nói theo Vương Dương Minh là tri hành hợp nhất.

Ba môn học trí tuệ còn gọi là Tam Tuệ Học, bao gồm: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ.
Ba phương pháp này giúp người học Phật nhận định rõ ràng đường hướng trong quá trình tu tập để đưa đến sự giác ngộ.
Thành phần của Tam Tuệ Học
Văn tuệ: trí tuệ phát sinh từ sự biết lắng nghe giáo pháp.
Tư tuệ: trí tuệ phát triển lớn dần từ sự tư duy, thẩm định vấn đề đã nghe.
Tu tuệ: trí tuệ tròn sáng do biết lắng nghe, tư duy và thực hành.
Phương pháp tu tập theo Tam Tuệ Học
Văn tuệ: lắng nghe chánh pháp, đọc tụng kinh sách, xem băng đĩa Phật giáo,… để khai thông trí tuệ.
Tư tuệ: tư duy, suy xét và nghiên cứu những lời dạy của Phật để trí tuệ tăng trưởng, hiểu rõ chân lý.
Tu tuệ: sau khi lắng nghe, suy nghĩ, biết được con đường chân chánh, chúng ta áp dụng vào cuộc sống để chuyển hóa nỗi khổ niềm đau.
Mối tương quan giữa Văn - Tư - Tu
Văn, Tư, Tu được xem như ba mắt xích, gắn liền và hỗ tương cho nhau trong quá trình tu tập.
Nếu chỉ nghe mà không suy nghĩ thì không thể phân biệt đúng sai để tìm ra chân lý.
Biết chân lý nhưng không thực hành thì không thể đạt đến an lạc, giải thoát.
Chỉ thực hành mà không học hỏi, thiếu suy nghĩ, thì việc làm sẽ mù quáng.
Kết Luận
Văn, Tư, Tu là ba phương pháp mà người học Phật không thể không hành trì đầy đủ, giống như kiềng ba chân không thể thiếu một chân.
Cổ Đức dạy: “Tu mà không học là tu mù, Học mà không tu như đãy đựng sách.”

(Sưu tầm)

3/23/2020

PHƯƠNG PHÁP TU TẠI THIỀN LÂM PA-AUK


Thích Giác Hoàng

Người viết ghé thiền lâm này tu hai lần. Lần nào cũng ngắn ngủi, không đủ thời gian để lãnh hội và thẩm thấu hết lộ trình tu tập của truyền thống thiền quán này. Ai cũng có thể đọc trong sách vở, hoặc nghe vị khác nói lại về tông chỉ của nó là như vầy, như vầy, nhưng tất cả những điều đó quả thật không thể so sánh được với những gì mình tự thể nghiệm từ sự tu tập của chính mình.
I. HOÀ THƯỢNG THIỀN CHỦ
Hoà thượng (HT) pháp danh Āciṇṇa, thông thường được nhiều người biết đến với pháp hiệu là Hoà thượng Pa-Auk (Pa-Auk Sayādaw). Sayādaw, tiếng Miến, là một tôn xưng đối với những vị Thầy đức hạnh, được nhiều người cung kính, trọng vọng. Trong một số trường hợp trịnh trọng hơn, nhiều vị tôn xưng là HT Thiền Chủ Thiền Lâm Pa-Auk (Venerable Pa-Auk Tawya Sayādaw). Tawya, nghĩa là “tùng lâm” hoặc “rừng”.
Hoà thượng sinh năm 1934 tại làng Leigh-Chaung, thị trấn Hinthada, thuộc vùng châu thổ khoảng một trăm dặm về phía Tây Bắc thủ đô Yangon.
Lúc Ngài 10 tuổi (năm 1944), thọ Sa-di giới tại một tu viện nơi làng Ngài ở. Thời gian đó, Ngài theo đuổi sự nghiệp học thuật, chuyên tâm nghiên cứu Tam Tạng Thánh điển Pāli, dưới sự hướng dẫn của nhiều bậc Thầy khác nhau. Trong thời gian còn Sa-di Ngài đã qua được ba kỳ khảo hạch về ngôn ngữ Pāli.
Hoà thượng thọ cụ túc giới năm 1954 khi Ngài vừa tròn 20 tuổi. Cũng trong thời gian này, Ngài tiếp tục nghiên cứu Thánh điển Pāli dưới sự hướng dẫn của nhiều bậc danh Tăng khác.
Năm 1956 Ngài đỗ bằng Pháp Sư (Dhammācariya) và được tấn phong là “Pháp Sư”. Văn bằng này  lúc trước tương đương với văn bằng cử nhân Pāli Phật học đối với một số nước.
Khoảng 8 năm sau đó, Ngài vẫn tiếp tục nghiên tầm giáo pháp, chu du khắp Miến Điện để  thọ học Pháp bảo từ nhiều bậc danh Tăng thạc đức.
Năm 1964, vào mùa an cư thứ 10, Ngài đổi hướng, bắt đầu độc cư núi rừng (đây là một trong 13 khổ hạnh mà Đức Phật cho phép các Tỳ-kheo thực hành), và chuyên tu tập thiền định. Mặc dầu vậy, Ngài vẫn để tâm đến văn học Pāli, song song tu tập dưới sự hướng dẫn của nhiều Thiền Sư thời bấy giờ.
Kể từ ấy cho tới 16 năm sau, Ngài hoàn toàn ở  núi rừng trong nhiều khu vực khác nhau thuộc phía Nam Miến Điện. Ba (3) năm đầu ở huyện Mudon, phía Nam của Mawlamyine (Tiếng Miến đọc: Mô-lăm-nhai). Mười ba (13) năm kế tiếp ở thị trấn Ye. Khoảng thời gian này, Ngài vừa học Thánh điển, vừa tu tập thiền định, và sống một đời sống vô cùng đơn giản.
Năm 1981, cố HT Aggapañña - viện chủ thiền viện Pa-Auk lúc bấy giờ sắp thị tịch, nên mời HT Āciṇṇa về trú trì. Năm ngày sau, cố HT Aggapañña xả bỏ báo thân, và kể từ lúc đó, HT. Āciṇṇa chính thức trở thành HT trụ trì thiền lâm Pa-Auk (Pa-Auk Tawya Sayādaw). Mặc dầu với công tác quản lý một tu viện mới, HT vẫn độc cư thiền định trong một tịnh thất nhỏ bằng tre nứa ở thượng phần của khu vực rừng.  Đây là một khu vực hoàn toàn vắng vẻ, yên tịnh bao bọc bởi những dãy đồi vòng quanh dãy núi Taung Nyo. Khu vực này bây giờ đã trở thành thượng phần của thiền viện.
Từ năm 1983, chư Tăng Miến các nơi bắt đầu đến. Mãi cho đến năm 1990, chư Tăng ngoại quốc mới tìm đến và tu tập dưới sự hướng dẫn của Ngài. Và cũng kể từ đó, nhiều người biết đến Ngài, và chẳng bao lâu từ một am thất nhỏ bằng tre nứa với một vài đệ tử đã trở thành một đại thiền lâm có tầm cỡ nhất nhì ở Miến ngày nay.
Năm 1997, HT xuất bản 5 tập nghiên cứu về thiền học bằng tiếng Miến, với tựa đề là “Đạo Lộ Đến Niết Bàn” (The Way to Nibbāna), giải thích chi tiết về lộ trình tu tập thiền định. Các đệ tử và thiền sinh đang lần lượt dịch sang tiếng Anh.
Vào ngày 04 tháng 01 năm 1999, Ngài được chính phủ Miến truy tặng tôn hiệu là “Agga Mahā Kammaṭṭhānācariya”, nghĩa là “Thượng Thủ Đề Mục Định Đại Sư.” Để đáp ứng nhu cầu truyền đạt kinh nghiệm tu tập cho hành giả ngoại quốc, hoặc để giúp họ tháo gỡ những trục trặc trong quá trình tu, nên trước thời gian tiếp Tăng ngoại quốc chẳng bao lâu, Ngài học tiếng Anh. Hiện nay tiếng Anh của Ngài đủ để thực hiện những gì Ngài mong ước. Ngài đã được mời tổ chức các khoá thiền ở Đài Loan, Malaysia, Singapore, Trung Quốc, Tích Lan, Nhật Bản, Hồng Kông, và Mỹ Quốc.
Hiện nay thiền sinh đến học thiền với Ngài rất đông, kể cả trong nước và ngoài nước. Thời gian người viết ở đó, có khoảng 500 – 700 thiền sinh, bao gồm gần như đủ các nước: Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, v.v… Các nước khối Đông Nam Châu Á gần như đủ, ngoại trừ Thái Lan. Vào mùa an cư, trung bình hàng năm có khoảng 600 - 700 thiền sinh. Vào dịp lễ Đức Phật Đản Sanh, Thành Đạo, Nhập Niết Bàn (Lễ Tam Hợp) cũng là ngày nghỉ lễ quốc gia của Miến, cũng có thể nói là ngày Tết của họ,  rất nhiều người tu gieo duyên, số lượng thiền sinh đôi khi lên tới cả 1.000.
Năm nay (2006), Ngài đã 72 tuổi, nhưng sức khoẻ vẫn tốt. Khả năng làm việc cũng gần giống như thời trung niên. Mỗi ngày đều xuống Trung Phần thiền viện dẫn chúng khất thực (nhận thực phẩm tại thiền viện), đi giám sát các Phật sự khi cần thiết.
Tiểu sử của HT tôi viết ở đây là dựa theo bản tiếng Anh được các vị ở đó cho trước khi về. Chương trình hoằng pháp của HT và các thông tin khác về tu viện, các vị có thể tham khảo thêm tại: https://www.paaukforestmonastery.org
II.PHƯƠNG PHÁP
1. Cách ngồi: Ngồi kiết già, bán già hoặc hai chân để dưới đất hết đều được. Phần lớn đều có bồ đoàn. Cũng tuỳ theo từng vị mà chọn bồ đoàn mình cao hay thấp. Có nhiều vị còn lót nhiều miếng bồ đoàn mỏng dưới hai bên chân cho êm và thăng bằng. Các thiền sư ở Miến hầu như không chú trọng ngồi kiết già hay bán già. Phần lớn đều ngồi hai chân để dưới đất, miễn làm sao lưng thẳng và ngồi lâu là ổn. Hai tay để theo thế nào cũng được, trái để trên, phải để trên, hay hai tai để ngữa trên hai bắp đùi cũng không sao. Các bắp cơ phải được thư giãn hoàn toàn. Hai mắt nhắm lại và thở đều đặn, bình thường.
Cách ngồi ở Miến có lẽ nhiều vị Việt Nam và Trung Hoa, Đài Loan sẽ dị ứng. Nhiều vị ngồi nghiêng một bên trái, hoặc ngồi nghiêng bên phải, nhất là sau khoảng một giờ. Nhiều vị để cả hai chân dưới mông.  Dĩ nhiên, cũng có nhiều vị thiền sinh ngồi rất tốt, ngồi liên tục một lúc từ 3- 4 tiếng đồng hồ mà vẫn giữ thế kiết già, lưng vẫn thẳng, mặt vẫn thảnh thơi, không thấy dấu hiệu gì đau đớn nơi thân. Và dĩ nhiên, cũng có một số vị ráng chịu đựng, đối phó với cơn đau của mình nhưng vẫn giữ thế kiết già và cho đến khi chuông đồng hồ reo lên.
Có một số vị khi thiền toạ đem một tượng Phật nhỏ để trước mặt để quán tưởng ân đức của Đức Phật cho dễ. Có một số vị thiền trụ (đứng yên lặng) cả nửa tiếng đồng hồ, tôi cũng không biết cụ thể vì lý do gì, có thể vì bệnh hôn trầm nên phải đứng chăng? Có một số vị lấy khăn bịt cả mắt lại khi ngồi, hoặc đứng trong thời thiền.
Mặc dầu trong thời khoá biểu có đề cập đến thiền hành, nhưng trên thực tế phần lớn đều thiền toạ cả. Nếu có thiền hành thì gần như là việc tu tập cá nhân. Các vị ở đây đi đứng sinh hoạt bình thường, chứ không có thiền hành thật chậm như các trường thiền khác ở Miến. Một vài vị ở đó tu cũng lâu rồi, cho rằng, với công phu thiền toạ từ một tiếng rưỡi đến 2 tiếng một thời như vậy trong thời gian dài, thì dầu có đi nhanh hoặc làm nhanh trong các Phật sự, vị ấy vẫn không thất niệm, nên thiền hành thật chậm không cần thiết.
Ở đây, vì toàn bộ là chư Tăng và cư sĩ nam, nên vị Tăng nào cảm thấy nóng bức có thể giải y thượng ra cho mát. Chính vì vậy trong thiền đường chúng ta thấy đủ kiểu, đủ thế: ngồi, đứng, bịt mắt, mở mắt, quấn y, giải y, hoặc lấy cái gì đó quấn sơ thân. Cũng nên biết thêm là các nhà Sư Miến không có y trung như các Sư Khất Sĩ, nên một khi giải y thượng ra thì các Sư phải kiếm cái gì đó che đỡ thân phần ở trên, hoặc để trần như vậy, và dĩ nhiên cũng có một số Sư cũng có áo như các Sư Thái Lan hoặc các Sư Nam Tông Việt Nam thường mặc. Một số vị cho rằng như vậy mất trang nghiêm trước tôn tượng Bổn Sư, nhưng một số vị cho rằng cũng hay hay, vì giống các pho tượng A-la-hán trong các chùa. Cách giải y thượng trên như vậy, một vài thiền viện cũng tại Miến, có lẽ vì cộng tu có cả Tăng Ni, cư sĩ, nên không cho phép !
Trong thời gian tu ở đó, người viết ngồi  gần một vị Sư Malaysia. Có một giai đoạn vị ấy lấy sách ra  đọc, dò tới dò lui những pháp số rất chi chít trong sách, rồi thỉnh thoảng đóng sách, quán chiếu như vậy thời gian cả tuần! Sự thật, tôi chưa hiểu hết các cách tu tập ở đây cho lắm, chỉ trình bày những gì thấy nghe mà thôi.
Trong thiền đường có 2 sọ người, không biết là bằng cao su hay sọ người thật. Có những vị chuyên quán sọ người như vậy trong một thời gian quán niệm tử thi. Ở hạ phần thiền viện, trên đường vô phía bên trong dành cho chư Tăng, có một nơi dành để hoả táng, do đó tại đó có một số mộ của những vị quá cố. Gần đó, có một bộ xương người đứng lồng trong kính, cũng rất ấn tượng cho thiền sinh khi vừa vào tới thiền lâm.
2. Khởi Đầu Tu Tập
Đối với một hành giả mới bắt đầu vào thiền lâm Pa-Auk, pháp môn chủ yếu và hàng đầu vẫn là chánh niệm về hơi thở (ānāpānasati) như trong Kinh Tứ Niệm Xứ trình bày.
Nhiều thiền sinh không theo dõi hơi thở được rõ ràng và điều đặn,  Ngài bổ sung bằng cách đếm hơi thở: hơi thở ra vào đếm một, hơi thở ra vào đếm hai, cứ như vậy cho đến 8 rồi quay trở lại một. Số 8 chỉ là số để nhớ đến Bát Thánh Đạo mà thôi. Tại sao không đếm tới 100, 1000, v.v… không thấy giải thích tại sao.
Tôi nghe vị khác kể lại, có một cư sĩ từ Việt Nam qua tu gieo duyên, bởi vì là một cư sĩ nên có nhiều mối lo toan trong đời, phải tính toán, làm ăn, v.v… nên vào tu định rất khó. Ông không biết cách nào để hàng phục vọng tâm, cho nên ông sáng tạo  cách đếm thay vì đếm tới 8, ông đếm từ 1 cho đến khi nào có một vọng tưởng khởi lên, ông liền ghi nhận vọng tưởng khởi lên vào số mấy, và tiếp tục đếm tiếp. Nếu vọng tưởng quá nhiều, không nhớ nữa thì bỏ, đếm lại từ một. Đấy cũng là cách sáng tạo trong tu tập. Điểm ưu và điểm khuyết của nó như thế nào, chúng tôi không dám lạm bàn ở đây.
Từ nền tảng chánh niệm về hơi thở vị ấy từng bước điều tâm, chế tâm, hạn chế các vọng tưởng điên đảo, và nhờ đó vị ấy đạt được định (samādhi).  Dấu hiệu để ghi nhận sự thành tựu của vị ấy về pháp quán niệm hơi thở là các thiền tướng (nimitta) xuất hiện. Trong một thời gian dài đã nỗ lực thiền tập mà không thành tựu, một vài thiền sinh xin đổi hướng tu, bằng cách quán tứ đại. Cũng có trường hợp, sau khi quán tứ đại không thành tựu rồi, thiền sinh xin quán niệm lại hơi thở.
Sự thật, tu hành để đạt ngộ không phải là đơn giản như chúng ta thường nghĩ.  Việc tu hành có đắc được các tầng định hay trí huệ mau hay chậm còn tuỳ thuộc vào các Ba-la-mật (pāramī) đã gieo tạo trong nhiều đời nhiều kiếp nữa. Có một số vị tu trong thời gian rất ngắn, có thể từ 10 đến 15 ngày, thiền tướng xuất hiện và tiến thẳng vào các giai đoạn sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, và từ đó tu tập các lộ trình khác. Cũng có nhiều vị tu 2 năm, 3 năm vẫn không thấy thiền tướng xuất hiện, thậm chí mệt mỏi và xin rời trường thiền, đi tham học kinh điển. Sau đó, tu tập lại thì thiền tướng xuất hiện!  Cho nên, kết quả đến nhanh hay chậm không thể đoán trước được. Không thể nói tu 2 năm là nắm được yếu chỉ của thiền học hoặc các lộ trình tu tập đều đã đi qua, hoặc có thể nói là tu nhiều năm rồi các kinh nghiệm tâm linh đều có !
3. Trình Pháp
Những thiền sinh mới tới phải trình pháp mỗi ngày, sáng hoặc chiều tuỳ mình chọn cho thích hợp. Dĩ nhiên là thiền sinh phải thành thật và thành khẩn, thì may ra thiền sư mới chỉ cách tháo gỡ được phần nào sự rối ren, tối đen của tâm thức. Khi tu lâu hơn, từ 5 - 6 tháng hoặc khoảng một năm, thiền sinh có thể trình pháp một tuần hai lần. Những vị tu một năm trở lên có thể trình pháp một tuần một lần.
Thời gian trình pháp không giới hạn, tuỳ vào nghi vấn của thiền sinh và giải đáp của Thiền Sư. Có khi chỉ 3 - 5 phút, có khi cả 20 phút. Nhất là những thiền sinh trình pháp với HT viện chủ thì rất ngắn, bởi vì HT không có thời gian nên nói rất vắn tắt. Ví dụ, Ngài hỏi: định được bao lâu ? Nghĩa là trong lúc ngồi thiền từ 1 tiếng rưỡi đến 2 tiếng đồng hồ, mình định được mấy phút. Câu trả lời tuỳ theo sự tu tập của mình. Có thể Ngài khuyên là quán tưởng ân đức của Đức Phật, hoặc niệm “chết” (chết đang đến, chết đến từng sát na), hoặc cũng có thể là quán bất tịnh trong thân. Nói tóm lại, việc trình pháp hằng ngày giúp thiền sinh rất nhiều trong việc tu tập. Ngũ căn hoặc Thất Bồ-đề phần được Thiền Sư khéo léo hỏi để cân bằng các chi ấy.
Phải nói là Ngài khá bận vì số lượng thiền sinh quá đông, nên không thể trả lời những câu hỏi mang tính lý thuyết, hay pháp tu cụ thể như thế nào, thế nào. Một số thuật ngữ Pāli Ngài dùng, đặc biệt về các pháp môn như là quán niệm 32 thể trược, quán niệm tử thi, quán niệm chết, quán niệm ân Đức Phật, v.v… bằng tiếng Pāli cả, nếu mình không có căn bản Pāli khó mà theo kịp. Vì lúc nào thiền sinh cũng sắp hàng dài chờ sự hướng dẫn của Ngài nên thiền sinh phải về tự học hỏi lấy. Sự thật, cách trình pháp và hướng dẫn ngắn gọn cũng có cái hay của nó làm cho thiền sinh không bị lạc dẫn vào những lý thuyết không quan trọng mà trường thiền khác tại Miến bị vấp phải.
4. Lộ Trình Tu Tập
Như tôi đã nói ở trên, nếu thiền sinh không xác định được căn tánh của mình, mà thiền sư cũng không biết rõ căn tính của mình loại nào, thì đề mục thiền sư cho để mình tập trung tư tưởng quán chiếu là đề mục hơi thở (ānapāna). Nếu hành giả không thành công với đề mục này thì thiền sư có thể đổi đề mục khác, bằng cách cho quán niệm một trong tứ đại (mahābhūta): đất, nước, gió, lửa. Có thể nói, truyền thống thiền này là do Thiền Sư Pa-Auk tự nghiên cứu và tu tập lấy, có cả Chỉ (Samatha) lẫn Quán (Vipassanā) dựa trên nền tảng của Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga) của Ngài Buddhaghosa (Phật Minh / Phật Âm). Đối với một tân thiền sinh, Chỉ (thiền Vắng Lặng) là nền tảng tối quan trọng để tu Quán (Tuệ Minh Sát). Tu cho hết lộ trình thất tịnh này, tuỳ theo căn tánh của hành giả, nhưng với kinh nghiệm của vị phụ trách thiền sinh nước ngoài, nói rằng một hành giả căn tánh ổn định, phải mất vài năm. Truyền thống thiền này không giống với truyền thống thiền của Thiền sư Mahāsī và các vị đệ tử kế thừa của Ngài hiện nay, chủ trương Chỉ Quán Song Tu, nhưng phần lớn các Ngài đều nhấn mạnh đến Quán. Chi tiết của thất tịnh như sau:
1. Giới Tịnh (Sīlavissuddhi): Thiền sinh phải giữ tròn 5 giới, 8 giới, 10 giới, 227 giới, (theo truyền thống Nam truyền, giới Bổn của Tỳ-kheo chỉ có 227 giới). Ở đây, có thể thêm vô 250 giới của truyền thống Bắc truyền). Vì ở Miến không có Ni đoàn, chỉ có  nữ tu, tiếng Miến gọi là Sa-già-lê (người giữ giới) –  giữ 10 giới, nên không thấy đề cập đến 311 giới của Tỳ-kheo-ni theo truyền thống Nguyên Thuỷ hoặc 348 giới theo truyền thống Bắc truyền. Mặc dầu nhiều vị Bắc truyền từ Đài Loan, Malaysia, Singapore hoặc Tỳ-kheo-ni từ Việt Nam đến tu, nhưng cũng đồng hoá như các vị Sa-già-lê ở Miến vậy.
Đối với chư Tăng, chư Ni đều phải thực hành “Tứ Thanh Tịnh Giới” của truyền thống Nguyên Thuỷ.
(1) Giới Bổn Phòng Ngự Giới (Pātimokkha-savara-sīla): Giới bổn cho chư Tăng là 227 giới, 10 giới và 75 học pháp cho Sa-di, 10 giới cho chư Ni, 8 hoặc 5 giới dành cho nam nữ cư sĩ.
(2) Căn Môn Phòng Ngự Giới (Indriya-savara-sīla): Điều phục các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
(3) Sinh Kế Thanh Tịnh Giới (Ājīvapā-vissudhi-sīla): Nuôi mạng sống đúng đắn. Trong trường hợp ở thiền lâm, thiền sinh khất thực mỗi ngày, không được dùng thực phẩm phi thời.
(4) Lộc Dụng Hệ Cư Giới (paccaya-sannissita-sīla): Sử dụng thực phẩm, phòng cốc, thuốc men, và y phục đúng cách.
Lưu ý, chư Tăng Ni ở đây không được giữ tiền dưới bất kỳ hình thức nào, như money order, cheque, vàng, bạc, thẻ tín dụng. Nếu còn đang giữ thì phải xả. Nếu xả đúng pháp thì mình không có quyền lấy lại. Tốt nhất, là nhờ ai đó ở Yangon giữ giúp, hoặc nhờ các vị cư sĩ hộ đạo (các vị Miến hay sử dụng từ Kappiya (káp-pi-yá)) ở đó giữ giúp trước khi gặp HT thiền chủ. Ngay cả cư sĩ muốn tu gieo duyên một thời gian ngắn, có thể một tuần hoặc một tháng đến 3 tháng, cũng phải sắp xếp nhờ ai đó giữ giúp trước khi xuống tóc.
2. Tâm Tịnh (Cittavissudhi): Để tâm tại nhân trung theo dõi hơi thở ra vào (ānāpānassati) một cách thuần thục. Giai đoạn này định mà hành giả đạt được gọi là Đẳng Phần Định (Sadisūpacāra). Với sự nỗ lực của hành giả tiếp tục niệm hơi thở ra vào một cách thuần thục hơn, các phiền não một phần nào lắng dần thì 3 thiền tướng (nimitta) sau đây xuất hiện: (1) Biến tác tướng (Parikamma-nimitta): hành giả sẽ thấy những sợi khói có màu lam nhạt xuất hiện trước mặt. (2) Thủ tướng  (Uggaha-nimitta): màu trắng, (3) Tợ tướng  (Paibhāga-nimitta): màu sáng hoặc một khối trong suốt như viên ngọc. Một khi 3 thiền tướng trên xuất hiện, có thể nói hành giả bắt đầu vào được Cận Định (Upacāra-samādhi). Đây là giai đoạn hơi khó khăn và mất thời gian đối với một số hành giả, đòi hỏi sự nhẫn nại và kiên trì của hành giả rất nhiều. Nếu thành tựu được giai đoạn này rồi thì các giai đoạn kế tiếp có thể đi nhanh hơn.
Tiếp đến hành giả được hướng dẫn thiền tập bốn trạng thái thiền Sắc giới. HT thiền chủ  là vị hướng dẫn rất thành tựu về bốn trạng thái thiền này. Có một vị Sa-di khoảng 10-12 tuổi đang ở đó, được HT ấn chứng là xuất nhập sơ thiền đến tứ thiền tự tại. Nghe nói, nhiều vị tu ở đó khoảng 5 - 6 tháng đều thành tựu bốn thiền sắc giới này cả.
Qua được tứ thiền, hành giả được hướng dẫn quán niệm 32 thể trược (ṭṭhāsa) trong thân, Quán niệm xương trắng (Aṭṭhikōṭṭhāsa), Quán niệm Ka-si-na màu trắng (Ōdātakasia).
Qua được giai đoạn trên, hành giả được dạy 4 trạng thái thiền Vô sắc giới (Arūpa-jhāna). Trong một số trường hợp Tứ thiền Vô Sắc không cần thiết dạy cho thiền sinh, nên trong hoạ đồ của HT không thấy đề cập tới, nhưng trong thực tế Ngài có dạy cho  một số thiền sinh tại thiền viện.
Qua Tứ Thiền Sắc Giới, các phép quán niệm như: Từ Bi Quán Niệm (Metta Kammatṭṭhāna), Ân Phật Quán Niệm (Buddhānussati kammaṭṭhāna), Bất Tịnh Quán Niệm (Asubha kammaṭṭhāna),  Tử Quán Niệm (Maranānussati kammaṭṭhāna) đều được hướng dẫn. Bốn phép quán niệm trên được gọi là bốn phép Quán Niệm Phòng Hộ (Caturārakkha kammaṭṭhāna), các vị độc cư núi rừng cần phải học, đôi khi còn học trước cả các phép quán niệm khác.
Từ giai đoạn tập nhập sơ thiền đến giai đoạn an trụ tâm trên tứ đại để quán chiếu, hành giả có thể rơi vào hai trạng thái định: An Chỉ Định (Appanā Samādhi) và Cận Hành Định (Upacāra Samādhi).
Đỉnh cao của phép quán này trong giai đoạn này là quán niệm Giới Đề Mục (Dhātukammaṭṭhāna), Bốn đại (Mahābhūta) và các đặc tính, tướng trạng (Lakkhaa) của nó.
Đây là hướng tổng quát của lộ trình tu tập, nhưng không nhất thiết hành giả nào cũng đi rập khuôn. Có vị được hướng dẫn chọn một trong 4 đại, ví dụ quán Kasia trắng (Ōdātakasia) ngay khi đạt được tứ thiền. Có trường hợp từ Tam thiền hành giả được dạy Từ Bi Quán Niệm (Metta Kammaṭṭhāna), và cũng có thể học cách quán 3 tâm vô lượng khác nữa. Điều này tuỳ thuộc vào căn tính của thiền sinh và sự linh động uyển chuyển của Thiền Sư. Nói tóm lại, các đề mục trong 7 phần của thiền định đều được hướng dẫn: (1) mười đề mục trước mặt (kasia), (2) mười đề tử thi (asubha), (3) mười đề tưởng nhớ (anussati), (4) bốn đề vô lượng tâm (brahma-vihāra), (5) bốn đề vô sắc (ārupa), (6) một đề thực phẩm nhơ bẩn (āhāre-paikūla-saññā), (7) một đề liễu tri tứ đại (catudhātu-vavatthāna). Và dĩ nhiên lộ trình đó không nhất thiết phải đi hết một cách chi tiết. Ví dụ, hành giả được hướng dẫn chọn một trong 4 đại quán niệm, khi quán niệm thành công, các đại khác có thể được giản lược.
Như đã nói ở trên, đôi lúc thiền sinh không thành tựu khi khởi động bằng quán niệm hơi thở thì thiền sinh chọn lộ trình thứ hai như sau:
Chọn một trong 4 đại để quán các tướng trạng của nó. Khi 3 thiền tướng xuất hiện thì các phép quán 32 thể trược trong thân (thirty-two kōṭṭhāsas), quán xương trắng (Aṭṭhikōṭṭhāsa), Ka-si-na trắng (Ōdātakasia) được dạy tiếp. Sau đó qua 4 thiền sắc giới (rūpa-jhāna), rồi qua 4 pháp quán niệm phòng hộ (Caturārakkha kammaṭṭhāna).
3. Kiến Tịnh (Diṭṭhi-vissuddhi)
Nhờ sự thành tựu của Tâm Thanh Tịnh, hành giả có thể tiếp tục quán sát danh sắc và thành tựu bốn trí: (1) Sắc Nhiếp Thọ Trí (Rūpa pariggaha-ñāa), (2)  Danh Nhiếp Thọ Trí (Nāma pariggaha-ñāa), (3) Danh Sắc Nhiếp Thọ Trí (Nāmarūpa pariggaha-ñāa), (4) Danh Sắc Sai Biệt Trí (Nāmarūpa vavatthāna-ñāa). Bốn loại trí này gọi tổng quát là “Danh Sắc Thức Biệt Trí” (Nāmarūpa pariccheda-ñāa) [1].  Đây là Trí đầu tiên hành giả đạt được trong 16 loại trí từ Kiến Thanh Tịnh cho đến hết lộ trình của nó. Hành giả trong giai đoạn này có thể nhận chân và phân biệt thế nào là danh và sắc một cách tường tận, nghĩa là quán chiếu sự sanh sanh diệt diệt của danh sắc một cách rõ ràng. Một số vị gọi là tách được danh ra khỏi sắc và từ đó làm chủ một phần nào thân tâm của mình.
4. Đoạn Nghi Tịnh (Kakhāvitaraa-vissuddhi)
Trong lộ trình này, hành giả được hướng dẫn Quán Thập Nhị Nhân Duyên. Hai phương pháp được chọn để quán đó là Phép Quán Thứ Nhất và Phép Quán Thứ Năm. Tôi nghe những vị tu lâu năm ở đó nói lại, thành tựu hai phép quán này, hành giả có thể nhìn thấu được một kiếp, hai kiếp hoặc 3 kiếp trong quá khứ của mình. Thành tựu hai phép quán này, hành giả đạt được Duyên Nhiếp Thọ Trí (Paccayapariggaha-ñāa) [2]. Đây là trí thứ 2 trong 16 loại trí trong lộ trình Thất Tịnh - Thập Lục Quán Trí. Tri kiến đạt được của hai giai đoạn 3 và 4 được gọi là Tri Biến Tri (Ñāta-pariññā)
5. Đạo Phi Đạo Tri Kiến Tịnh (Maggāmaggañāa-dassanavissuddhi)
Trong giai đoạn này hành giả đạt được hai loại trí, đó là: Tư Duy Trí (Sammasana-ñāa) [3] và Sinh Diệt Tuỳ Quán Trí (Udayababaya-ñāa) [4]. Hai trí trên cũng có thể gọi tắt lại là Độ Biến Tri (Tīraa-pariññā). Trong giai đoạn này hành giả thật sự đi vào lộ trình Minh Sát Chiếu Kiến (Vipassanā-kammaṭṭhāna). Đặc tính (lakkhaa), tác dụng (rasa), hiện trạng (paccupaṭṭhāna), và cận nhân (padaṭṭhāna) của các sự vật hiện tượng được nhìn đúng như bản chất, tướng trạng của chúng.
6. Hành Đạo Tri Kiến Tịnh (Paipadāñāadassana-vissuddhi)
Ở giai đoạn này hành giả đạt được 9 loại trí kế tiếp, đó là: Hoại Diệt Tuỳ Quán Trí (Bhaga-ñāa) [5], Bố Uý Hiện Khởi Trí (bhaya-ñāa) [6], Quá Hoạn Tuỳ Quán Trí (Ādinava-ñāa)  [7], Yểm Ly Tuỳ Quán Trí (Nibbidā-ñāa) [8], Dục Giải Thoát Trí (Muñcitukamyatā-ñāa) [9], Thẩm Sát Tuỳ Quán Trí (Paisakhā-ñāa) [10], Hành Xả Trí (Sakhārupekkhā-ñāa) [11], Tuỳ Thuận Trí (Anuloma-ñāa) [12], Chủng Sanh Trí (Gotrabhu-ñāa) [13].
7. Tri Kiến Tịnh (Ñāadassana-vissuddhi)
Tới giai đoạn này nghĩa là hành giả đã vô được 4 Đạo (Magga). Trong giai đoạn này, 3 trí sau sẽ hiện khởi: Đạo Trí (Magga-ñāa) [14], Quả Trí (Phala-ñāa) [15], và cuối cùng là Tỉnh  Sát Trí (Paccavekkhaa-ñāa) [16].
Mười ba (13) loại trí  từ giai đoạn thứ 6 đến thứ 7 có thể gọi tắt lại là Đoạn Biến Trí (Pahāna-pariññā). Tới đây, đối với một hành giả, “ sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, không còn trở lui đời sống này nữa.”
********************************
Đây là lộ trình căn bản mà HT và các vị giáo thọ ở thiền viện hướng dẫn thiền sinh tu tập. Vì thoả mãn tính tò mò nghiên cứu, và cũng để giúp cho những vị không biết tiếng Anh (tôi đã gặp ở Miến và ở vài nơi khác) bất đắc dĩ trình bày tóm tắt lộ trình tu trên.