2/07/2020

HÀNH

Hành dịch từ chữ Pali SANKHARA. Tây Âu dịch là formation mentale ; là uẩn thứ tư trong Ngủ Uẩn ; là khoen thứ hai trong Thập Nhị Nhân Duyên (Vô minh -> Hành).

1- Về Bản chất : Hành là sự phối hợp của một loại tâm với một số tâm sở thích hợp trong số 50 tâm sở (trừ THỌ và TƯỞNG) dưới sự chủ động của tác ý (cetana) để hành động tạo nghiệp hoặc không tạo nghiệp qua thân, khẩu và ý.
Vi dụ : + khi có nhãn thức, trong đó bao gồm 7 tâm sở biến hành : xúc, thọ, tưởng, tác ý, định, mạng quyền, ý hướng : như vậy là có 1 hành.
+ khi có tâm sân, trong đó bao gồm 20 tâm sở : như vậy là có 1 hành.
+ khi có tâm vi tiếu, là cái tâm gây ra cái cười của bậc A La Hán, trong đó bao gôm 12 tâm sở : như vậy là có 1 hành duy tác.
 2- Về Ý nghĩa :
- hành là tác ý, chủ tâm, cố ý để hành động qua thân, khẩu, ý, như vậy hành là NGHIỆP.
- hành đôi khi dùng để chỉ định các « pháp » được cấu tạo (composé), hình thành (confectionné) và bị chi phối bởi các nhân duyên, điều kiện (conditionné), cho nên hành có thể được hiểu là Pháp HỮU VI. Còn chữ PHÁP (dhamma) bao gồm tất cả các pháp HỮU VI và VÔ VI (= NIẾT BÀN)
 3- Về danh từ :
- hành có thể bằng ý nghĩ, lời nói hay việc làm
+ ý hành : tạo nghiệp bằng ý nghĩ.
+ khẩu hành : tạo nghiệp bằng lời nói.
+ thân hành : tạo nghiệp bằng việc làm.
- hành có thể tốt (phúc hành), xấu (phi phúc hành), không tốt không xấu (bất động hành : duy tác, vô vi).(có sách nói bất động hành là hành động ở cõi vô sắc)
- danh từ thiền :
+ thân hành : là hơi thở vô ra, là 4 tư thế : đi, đứng, ngồi, nằm hoặc tiểu oai nghi.
+ khẩu hành : là tầm và sát.
+ ý hành : là thọ, tưởng, thức (đây nói khi nhập loại thiền Diệt, sẽ không Còn thọ, tưởng và thức nữa) + nhất hành (nhất tâm) : là tâm sở định. + hành thiền : là thực tập thiền.
+ thiền hành : là thiền đi.
4- Về phân loại theo Tang Kinh
+ Hành quá khứ, hiện tại, vị lai : Tuỳ theo đối với thời điểm hiện tại, hoặc kiếp hiện tại.
+ Hành nội = ý hành / Hành ngoại : khẩu hành hay thân hành.
+ Hành thô = hành có tạo nghiệp (Phúc hành hay Phi phúc hành).
+ Hành tế = hành không tạo nghiệp (Bất động hành).
+ Hành liệt = Phi phúc hành / Hành thắng = Phúc hành.
+ Hành xa hay gần tuỳ theo đối với vị trí trong không gian ở đây hoặc thời gian bây giờ.
 5- Biện giải :
VÔ MINH sinh HÀNH đó là một định luật trong hệ thống DUYÊN sinh. Vô minh là không hiểu  biết những điều đáng hiểu biết. 
Những điều đáng hiểu biết là : 
- Tứ Diệu Đế : khổ, tập, diệt, đạo.
- Uẩn, Xứ, Giới quá khứ.
- Uẩn, Xứ, Giới vị lai.
- Uẩn, Xứ, Giới ở cả hai thời điểm trên.
- Những định luật nhân quả tương quan của nguyên lý Duyên Sinh.
Do không hiểu biết tám điều trên, chúng sanh cứ mãi mê huân tập các Hành để rồi tự kéo dài dòng luân hồi sinh tử : « Người bị vô minh bao phủ thì luôn nỗ lực tác động 3 Hành (thân, khâu,ý) cội nguồn của mọi thống khổ trong đời. Họ giống như một kẻ vì mỹ nhân mà leo xuống vực thẳm, như một con thiêu thân sa vào ngọn đèn bị ánh lửa thu hút, như một người vì ham ăn uống mà phải bị đầu độc, như một đứa bé ham chơi đùa nghịch với cứt đái của chính mình hay như một người cứ mãi đi theo ý thích để rồi lạc vào kinh thành của loài yêu quái vậy » (Sammohavino dania atthakatha).
Tiếp nối định luật Duyên Sinh, HÀNH sẽ trợ duyên cho THỨC sinh khởi.
Trong giờ phút hấp hối, hành nghiệp trong dòng tâm thức lúc chết sẽ trổ ra quả là thức tái sanh (Patisandhi vinnana). Đối với con người thức tái sanh kết hợp với noãn và tinh trùng trong lúc thụ thai. Như thế 1 “ chúng sanh người” mới  vừa được sinh khởi.
Sau đó trong cuộc sống, những nghiệp đã tích tụ khác sẽ trổ ra các loại Thức Quả (tức là 32 tâm quả hiệp thế) tùy theo môi trường, hoàn cảnh, điều kiện nhân duyên. Nếu con người biết sống lành mạnh, đạo đức thì những nghiệp xấu có thể không đủ điều kiện để trổ quả.
 (Sưu tầm)