Hành dịch từ chữ Pali SANKHARA. Tây Âu dịch là
formation mentale ; là uẩn thứ tư trong Ngủ Uẩn ; là khoen thứ hai trong Thập
Nhị Nhân Duyên (Vô minh -> Hành).
1- Về Bản chất : Hành là sự phối hợp của một loại tâm
với một số tâm sở thích hợp trong số 50 tâm sở (trừ THỌ và TƯỞNG) dưới sự chủ động
của tác ý (cetana) để hành động tạo nghiệp hoặc không tạo nghiệp qua thân, khẩu
và ý.
Vi dụ : + khi có nhãn thức, trong đó bao gồm 7 tâm sở
biến hành : xúc, thọ, tưởng, tác ý, định, mạng quyền, ý hướng : như vậy là có 1
hành.
+ khi có tâm sân, trong đó bao gồm 20 tâm sở : như vậy
là có 1 hành.
+ khi có tâm vi tiếu, là cái tâm gây ra cái cười của bậc
A La Hán, trong đó bao gôm 12 tâm sở : như vậy là có 1 hành duy tác.
2- Về Ý nghĩa :
- hành là tác ý, chủ tâm, cố ý để hành động qua thân,
khẩu, ý, như vậy hành là NGHIỆP.
- hành đôi khi dùng để chỉ định các « pháp » được cấu
tạo (composé), hình thành (confectionné) và bị chi phối bởi các nhân duyên, điều
kiện (conditionné), cho nên hành có thể được hiểu là Pháp HỮU VI. Còn chữ PHÁP
(dhamma) bao gồm tất cả các pháp HỮU VI và VÔ VI (= NIẾT BÀN)
3- Về danh từ :
- hành có thể bằng ý nghĩ, lời nói hay việc làm
+ ý hành : tạo nghiệp bằng ý nghĩ.
+ khẩu hành : tạo nghiệp bằng lời nói.
+ thân hành : tạo nghiệp bằng việc làm.
- hành có thể tốt (phúc hành), xấu (phi phúc hành),
không tốt không xấu (bất động hành : duy tác, vô vi).(có sách nói bất động hành
là hành động ở cõi vô sắc)
- danh từ thiền :
+ thân hành : là hơi thở vô ra, là 4 tư thế : đi, đứng,
ngồi, nằm hoặc tiểu oai nghi.
+ khẩu hành : là tầm và sát.
+ ý hành : là thọ, tưởng, thức (đây nói khi nhập loại
thiền Diệt, sẽ không Còn thọ, tưởng và thức nữa) + nhất hành (nhất tâm) : là
tâm sở định. + hành thiền : là thực tập thiền.
+ thiền hành : là thiền đi.
4- Về phân loại theo Tang Kinh
+ Hành quá khứ, hiện tại, vị lai : Tuỳ theo đối với thời
điểm hiện tại, hoặc kiếp hiện tại.
+ Hành nội = ý hành / Hành ngoại : khẩu hành hay thân
hành.
+ Hành thô = hành có tạo nghiệp (Phúc hành hay Phi
phúc hành).
+ Hành tế = hành không tạo nghiệp (Bất động hành).
+ Hành liệt = Phi phúc hành / Hành thắng = Phúc hành.
+ Hành xa hay gần tuỳ theo đối với vị trí trong không
gian ở đây hoặc thời gian bây giờ.
5- Biện giải :
VÔ MINH sinh HÀNH đó là một định luật trong hệ thống
DUYÊN sinh. Vô minh là không hiểu biết những điều đáng hiểu biết.
Những điều đáng hiểu biết là :
- Tứ Diệu Đế : khổ, tập, diệt, đạo.
- Uẩn, Xứ, Giới quá khứ.
- Uẩn, Xứ, Giới vị lai.
- Uẩn, Xứ, Giới ở cả hai thời điểm trên.
- Những định luật nhân quả tương quan của nguyên lý
Duyên Sinh.
Do không hiểu biết tám điều trên, chúng sanh cứ mãi mê
huân tập các Hành để rồi tự kéo dài dòng luân hồi sinh tử : « Người bị vô minh
bao phủ thì luôn nỗ lực tác động 3 Hành (thân, khâu,ý) cội nguồn của mọi thống
khổ trong đời. Họ giống như một kẻ vì mỹ nhân mà leo xuống vực thẳm, như một
con thiêu thân sa vào ngọn đèn bị ánh lửa thu hút, như một người vì ham ăn uống
mà phải bị đầu độc, như một đứa bé ham chơi đùa nghịch với cứt đái của chính
mình hay như một người cứ mãi đi theo ý thích để rồi lạc vào kinh thành của
loài yêu quái vậy » (Sammohavino dania atthakatha).
Tiếp nối định luật Duyên Sinh, HÀNH sẽ trợ duyên cho
THỨC sinh khởi.
Trong giờ phút hấp hối, hành nghiệp trong dòng tâm thức
lúc chết sẽ trổ ra quả là thức tái sanh (Patisandhi vinnana). Đối với con người
thức tái sanh kết hợp với noãn và tinh trùng trong lúc thụ thai. Như thế 1 “
chúng sanh người” mới vừa được sinh khởi.
Sau đó trong cuộc sống, những nghiệp đã tích tụ khác sẽ
trổ ra các loại Thức Quả (tức là 32 tâm quả hiệp thế) tùy theo môi trường, hoàn
cảnh, điều kiện nhân duyên. Nếu con người biết sống lành mạnh, đạo đức thì những
nghiệp xấu có thể không đủ điều kiện để trổ quả.
(Sưu tầm)