Pháp thiền trong Phật giáo có hai loại, gọi chung là
tham thiền (bhāvanā) đó là:
1) Thiền Định (Samathabhāvanā);
2) Thiền Tuệ (Vipasanābhāvanā).
Thiền Định là một pháp thiện làm cho tâm yên tịnh, mát
mẻ, an lạc và có quả báo là tái sinh vào cõi Phạm thiên (Brahma). Tuy nhiên
pháp thiện này cũng đang còn ở trong vòng sinh tử luân hồi, và con người đã từng
tu tập được ngay trước thời Đức Phật ra đời.
Thiền Tuệ là pháp hành khác biệt với thiền định, là
pháp thiện được tu tập để thoát khỏi luân hồi tử sinh. Pháp này chỉ có kể từ
khi Đức Phật xuất hiện mà thôi và đây cũng là pháp mà Ngài mong muốn mọi chúng
sanh, tứ chúng Phật tử đạt đến trí tuệ thiền tuệ này.
Nếu hành giả không thấu hiểu thì sẽ đem cả thiền tuệ
và thiền định ra cùng thực hành hoặc sẽ nghĩ rằng cả hai loại này là cùng một
pháp hành và cho kết quả như nhau. Do vậy thiền tuệ sẽ không thể phát sinh và sẽ
không thoát khỏi khổ được, bởi vì thiền định chỉ làm cho tâm mát mẽ, yên tịnh,
an lạc. Hành giả sẽ dính mắc vào an lạc, sống với an lạc, đấy là nhân làm cho
trí tuệ không thể thấy được khổ theo phận sự của Thánh Đế được và sẽ làm cho hiểu
nhầm rằng sự yên tịnh đã đạt được ấy là Niết-bàn.
Người nào quan tâm đến định thì cần hiểu các điểm
này trước, định có ba loại là:
- Sát-na định: định trong chốc lát (hay phiến thời định).
- Cận hành định: định sắp đến trạng thái của thiền.
- An chỉ định: là trạng thái thiền định, tâm ổn cố, trụ
vững trên một đối tượng trong thời gian dài.
Thực hành thiền tuệ sử dụng sát-na định, lúc mà đang
nhận mỗi một đối tượng hiện tại, đang diễn ra. Hành giả đang nhận đối tượng hiện
tiền có thể chuyển đối tượng được nhận theo cả sáu cửa (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý). Chẳng hạn lúc mắt đang theo dõi sắc (thân) ngồi, nếu nghe tiếng động
lớn thì tâm tự động quay sang theo dõi ở tai, tức là danh (tâm) đang nghe,…
Sát-na định là nền tảng làm phát sinh thiền tuệ và nhiệm
vụ của thiền tuệ là đoạn trừ phiền não, cấu uế tại những nơi mà chúng gá vào để
sinh trưởng (sáu cửa: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) (nơi phát sinh thất tình lục
dục).
Xin đừng hiểu nhầm về thiền định, hãy tự đọc và tự hiểu
lấy, hiểu được rồi thì tự mình thực hành lấy, kiểm chứng lấy; sự thật nằm ở
chính bản thân mình. Tâm ta thanh tịnh rồi thì quả sẽ tự có, nghe xong cần suy
xét, đừng tin điều gì một cách dễ dàng mà không qua kiểm chứng. So sánh giữa
thiền định và thiền tuệ, thử tìm hiểu, học hỏi hai pháp này để đừng nhầm lẫn
nhau. Hãy nhìn rõ nhân và quả rồi tự mình quyết định lấy rằng sẽ muốn trở thành
Phạm thiên để phải sinh tử luân hồi tiếp tục hay là đạt đến Niết-bàn thoát ly
khổ não.
Để tránh khỏi bị đánh lừa, cần phải hiểu đúng và biết
rõ, cần xác định cái đúng để tự quyết định. Đúng hay sai tùy thuộc vào trí tuệ
của mình, không phải tin vào người khác, có tin thì cũng đem ra kiểm chứng trước
đã rồi mới hẳn tin.
Thiền định có từ trước rồi, còn thiền tuệ thì ra đời kể
từ khi Đức Chánh Đẳng Giác thành đạo. Hai pháp này khác nhau đến chín điểm,
nhân tạo ra không giống nhau nên quả cũng không giống nhau:
Đặc điểm của pháp hành thiền định:
1) Thực tánh: Diễn tiến theo năng lực của định.
2) Đối tượng: Dùng đối tượng là pháp chế định
(paññatti) làm nền tảng của thiền, ví dụ mười đề mục tùy niệm.
3) Tính chất: Không phóng dật (phóng tâm).
4) Nhiệm vụ: Diệt trừ các pháp chướng ngại (nivāraṇa).
5) Quả hiện hữu: Là sự không dao động trước đối tượng
(đề mục), tâm trụ vững trên đối tượng, giống như ngọn đèn không bị gió làm lay
động.
6) Nhân gần: Sự an lạc là nguyên nhân gần làm phát
sinh định, bởi vì khi tâm an lạc rồi thì sẽ không dao động trước các dục trần
nên tâm được tĩnh lặng.
7) Ích lợi: Dẫn đến các định (samāpatti), làm cho tâm
mát mẻ, yên lành, an lạc, bởi lẽ lúc đó tâm thoát ly tham và sân, dễ dàng đắc
ngũ thông, cho quả tái sinh vào các cõi trời Phạm thiên trong tương lai.
8) Pháp hành: Cần phải thực hành trên một đối tượng mà
thôi bằng cách giữ tâm yên định trên đối tượng đó, thiền định chỉ sử dụng ba cửa
giác quan là: thân môn, nhãn môn và ý môn.
9) Phân loại hành giả: Có sáu loại là Tham hành giả
(hành giả có tánh tham), Sân hành giả, Si hành giả, Tín hành giả, Giác hành giả
và Tầm hành giả. Do vậy người thực hành cần chọn đề mục thích hợp với tâm tánh
của mình.
Đề mục của thiền định có tất cả 40 loại, nhưng chỉ có
30 loại đề mục mà hành giả đem ra thực hành là đưa đến đắc định, số còn lại (10
đề mục tùy niệm) chỉ đưa đến cận định mà thôi.
Đặc điểm của pháp hành thiền định chỉ có bấy nhiêu,
phương pháp thực hành thì cũng nhiều, tùy theo người chỉ dạy sẽ bày cho cần làm
gì. Nghĩ cho kỹ, xem kết quả của người bày cho mình làm trước rồi hãy tin, nói
trống không chỉ là gió thoảng, ngôn ngữ chế định thì tin vào đâu được, lời Phật
dạy đang còn hiện hữu đấy.
Đặc điểm của pháp hành thiền tuệ:
1) Thực tánh: Diễn tiến theo năng lực của tuệ.
2) Đối tượng: Dùng đối tượng là pháp chân nghĩa
(paramattha) trong Tứ Niệm Xứ làm nền tảng của thiền minh sát tuệ.
3) Tính chất: Có trí tuệ thấy rõ như chân như thật của
thực tánh vạn pháp.
4) Nhiệm vụ: Diệt trừ tham ái đã che lấp sự thật của
thực tánh pháp.
5) Quả hiện hữu: Là sự không hiểu sai về thực tánh của
vạn pháp.
6) Nhân gần: Thiền tuệ có định là nguyên nhân gần làm
phát sinh, như trong kinh điển có ghi nhận rằng định là nền tảng làm phát sinh tuệ,
ở đây chính là sát-na định làm nền tảng phát sinh tuệ (trí tuệ thiền tuệ).
7) Ích lợi: Dẫn đến Lậu tận trí (Āsavakkhayañāṇa) tức
là diệt tận các lậu hoặc, đoạn trừ vĩnh viễn các phiền não, cấu uế đã dẫn dắt
chúng sanh trong sinh tử luân hồi.
8) Pháp hành: Đối tượng của pháp hành diễn tiến qua cả
sáu cửa giác quan, lấy Tứ Niệm Xứ làm đề mục bước đầu. Thiền tuệ không chú trọng
đến đối tượng là vi tế hay thô tháp, chỉ quán sát ở sự sinh diệt của danh và sắc
(vật chất và tâm), ngay cả các chướng ngại pháp (nivāraṇa)
cũng đem ra làm đối tượng của pháp hành thiền tuệ được như đã thấy trong phần
Quán Niệm Pháp (Dhammānupassanāsatipaṭṭhāna), mục Chướng Ngại (Nivāraṇapabba).
9) Phân loại hành giả: Có hai loại là Tham ái hành giả
và Tà kiến hành giả, phân chia theo tâm tánh của từng người. Trong mỗi loại còn
chia ra hai hạng nữa, ấy là hạng đa trí và hạng thiểu trí. Việc thực hành thiền
tuệ cần phải lựa chọn đề mục cho phù hợp với tâm tánh của mình.
Các đặc điểm của thiền tuệ đã được nêu rõ ở trên,
chúng ta cần phải lựa chọn bởi vì hiện tại mỗi chùa, mỗi một thiền viện đều nói
là thực hành thiền tuệ cả. Vào đến nơi nào cần tìm xem cách thực hành của họ,
thấy kết quả của họ, quan trọng là ở kết quả của bản thân họ, xem môi trường
chung quanh cho thấy là “thiền tuệ chế định” (vipassanāpaññatti) hay “thiền tuệ
chân nghĩa” (vipassanāparamattha). Nếu là “thiền tuệ chế định” thì ngay cả con
người, trú xứ, môi trường chung quanh được tạo dựng nhằm mục đích kinh tế, lợi
lộc, danh tiếng, địa vị, sung túc, đầy đủ bề thế cả nơi khuất lấp lẫn nơi dễ thấy,
trước sau bất nhất (trừ những trung tâm đào tạo, giáo dục và quan hệ quốc tế).
Lời giáo huấn đúng đắn là mỗi khi đã vào thực hành
pháp hành thiền tuệ thì lợi, danh, quyền, lạc phải tận trừ. Ăn uống, sử dụng đồ
vật chỉ nhằm mục đính giải trừ khổ mà thôi, nên có thể nói rằng: Ra sao cũng được,
không dính mắc vào cái gì, mọi thứ chỉ để để diệt khổ mà thôi. Ngày ngày tích
lũy phước thiện, giới hạnh trong sạch, hướng đến thanh tịnh, huân tập thiện
pháp cho đời kiếp tương lai nhằm đoạn trừ sanh tử luân hồi.
Thiền tuệ chân nghĩa cho quả là diệt tận phiền não, cấu
uế, là pháp đoạn trừ phiền não một cách trực tiếp. Công đoạn đầu tiên là diệt tận
cái “ta”, cái “của ta” để không còn dính mắc. Chỉ có trí tuệ thiền tuệ mới đoạn
trừ phiền não được thôi, thiền tuệ chỉ dành cho người có trí vậy!
** Tác giả: Archarn Nép**
(Sư Tường Nhân dịch từ tiếng Thái)