7/29/2020

Đoạn trừ phiền não (Sưu tầm)

1- Dục Lậu (kāmāsava).

Nghĩa chữ của “dục lậu” là do dục, bởi dục mà tươm rỉ ra bợn nhơ phiền não.

Dục lậu còn gồm những từ đồng một thuộc tính như: Ô nhiễm, hư hỏng, đồi bại, dơ bẩn, độc hại, bợn nhơ, xú uế, mê tối, lầm lạc… Mọi luyến ái dục lạc ngũ trần, đắm say vật chất đều thuộc về dục lậu.

2- Hữu Lậu (bhavāsava).

Chỉ cho sự tham ái, đeo dính, muốn có mặt, muốn tồn tại trong các cảnh giới. Nói cách khác – bhava (hữu) là hạt giống, là chủng tử; nó là tên gọi khác của hành (ái, thủ, hữu) đưa đến sanh, lão tử ở trong 12 duyên khởi. Với nghĩa này nên có ba hữu: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.

3- Kiến Lậu (diṭṭhāsāva).

Là gồm chung là 62 tà kiến như đã được đề cập đến trong kinh Brāhmajāla (Phạm võng). Do sự luyến ái ý tưởng, tư tưởng; các quan điểm, lý thuyết, triết lý cục bộ, giới hạn, lầm lạc, nghiêng lệch… lại còn chấp thủ vào chúng nữa nên đưa đến đối kháng, tranh chấp, bảo vệ. Đấy chính là kiến lậu. Là những phiền não thuộc về sở tri, kiến thức, quan niệm.

Nếu dục lậu, hữu lậu thuộc về phiền não tâm thì kiến lậu thuộc về phiền não trí – chúng tươm rỉ mọi dơ uế, bẩn thỉu từ thế giới tinh thần.

4- Vô Minh Lậu (avijjāsava).

Là trạng thái vô minh liên quan đến Tứ Diệu Đế, ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên… Đấy là không biết gì về khổ, về nguyên nhân khổ, sự diệt khổ và con đường khổ diệt. Nói theo thiền quán minh sát là không biết gì về tiến trình sinh diệt của ngũ uẩn, của 12 duyên khởi; không biết rõ, thấy rõ “cái ta” là giả ngã, không thực tính, không thực thể, là tánh không.

Cách đoạn trừ (Kinh Tất cả Lậu hoặc)

1) Trừ diệt lậu hoặc bằng tri kiến:
Phàm phu do không tuệ tri nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.
Không cần tác ý mà lại tác ý: do vậy 3 lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa sanh được sanh khởi, hay đã sanh được tăng trưởng.
Tác ý các pháp cần tác ý: nhờ đó, 3 lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa sanh không sanh khởi, hay đã sanh được trừ diệt.
Hậu quả của không như lý tác ý: sáu tà kiến (còn gọi kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược) xuất hiện: 1) Ta có tự ngã”, 2) Ta không có tự ngã, 3) Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã, 4) Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã, 5) Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã, 6) Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại.

Do bị tà kiến trói buộc, phàm phu không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Tà kiến:

Thường kiến có 3:

1-Tin có một đấng chí tôn tạo ra muôn loài.

2- Tin vào một linh hồn thường hằng bất biến có một cái tôi đi từ đời này qua đời khác .

3- Tin có một thế giới vĩnh hằng, miên viễn, vĩnh cửu trường sinh bất lão.;

Đoạn kiến có 3:

Akiriyaditthi : Vô Hành Kiến - Cho rằng trên đời không có thiện ác muốn làm gì thì làm, không có để lại kết quả gì hết, thiện ác giống nhau.

 Ahetukaditthi: Vô Nhân Kiến
Cho rằng mọi thứ ở đời này ngẫu nhiên mà có. Thay vì những người biết đạo thì hiểu rằng mọi thứ ở đời này đều do các duyên, duyên tốt hoặc là duyên xấu, duyên tích cực hoặc là tiêu cực. Mọi thứ ở đời đều do duyên mà có, rồi cũng sẽ do duyên mà mất, không có gì trên đời này mà ngẫu nhiên mà có.

 Natthikaditthi: Vô Hữu Kiến .
Cho là cái gì mình không thấy được, không hiểu được, không chứng minh được thì cái đó không có ở đời.

Nhờ như lý tác ý: “Đây là khổ,” “Đây là khổ tập,” “Đây là khổ diệt,” “Đây là con đường đưa đến khổ diệt,” ba kiết sử là thân kiến, nghi, giới cấm thủ được trừ diệt. Đây gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.

2) Trừ diệt lậu hoặc bằng phòng hộ:
Với như lý giác sát, người trí sống phòng hộ mắt, tai, mủi, lưởi, thân và ý; nhờ đó, các lậu hoặc được diệt trừ và nhiệt não không còn.

3) Trừ diệt lậu hoặc bằng thọ dụng:
a) Y phục để che đậy sự trần truồng, ngăn ngừa lạnh, nóng, ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát.
b) Thực phẩm không phải để hưởng thụ, thoã mãn, tự làm đẹp thân, mà chỉ để thân được sống lâu và sống khoẻ, hỗ trợ con đường tu tập, nhờ đó diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, không còn lỗi lầm, sống được an ổn.
c) Sàng toạ chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.
d) Dược phẩm để trị bệnh, ngăn chận các cảm giác khổ đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.

4) Trừ diệt lậu hoặc bằng kham nhẫn:
a) Kham nhẫn khí hậu và thời tiết: lạnh, nóng.
b) Kham nhẫn thực phẩm: đói, khát.
c) Kham nhẫn ngoại duyên: sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát.
d) Kham nhẫn thị phi: kham nhẫn những cách nói mạ lỵ, phỉ báng.
e) Kham nhẫn cảm thọ khổ của thân (thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người).

5) Trừ diệt lậu hoặc bằng tránh né:

a) Tránh né thú dữ: voi, ngựa, cọp, rắn, chó sói v.v…
b) Tránh né ngoại cảnh: khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước.
c) Tránh né nơi chốn: những trú xứ không nên lai vãng, những chỗ ngồi không đáng ngồi.
d) Tránh né người bất thiện: bạn bè hay người ác độc nếu giao du thì bị người trí nghi ngờ, khinh thường.

6) Trừ diệt lậu hoặc bằng trừ diệt:
a) Dục niệm: tư duy, ý niệm hướng về dục, ước muốn thoã mãn dục tính, lệ thuộc dục vọng; xem khoái lạc giác quan là cứu cánh của cuộc sống.
b) Sân niệm: tư duy, ý niệm hay khuynh hướng bực tức, giận dữ, chống đối đối tượng, thể hiện qua lời tục tĩu, thô bạo, thiếu ái ngữ; qua hành động nóng nải và các biểu hiện nôn nóng.
c) Hại niệm: tư duy, ý niệm hay khuynh hướng tiêu diệt, cản phá đối tượng không thích; hãm hại, trù dập, ức hiếp người khác.
d) Bất thiện, đã khởi lên, đang hiện hữu hay sẽ có mặt; không để chúng tồn tại lâu dài trong ý nghĩ và việc làm.

7) Trừ diệt lậu hoặc bằng tu tập (bhāvanā):
Ngoài hỗ trợ bằng phương pháp đoạn trừ lậu hoặc trên nền tảng ngăn ngừa các tâm lý dục, sân, hại và các pháp bất thiện, hành giả còn phải vận dụng 7 yếu tố giác ngộ: a) chánh niệm, b) trạch pháp, c) tinh tấn, d) hoan hỷ, e) khinh an, f) định tĩnh, g) xả ly, hướng đến viễn ly, ly tham và giải thoát.

Bệnh Nào Thuốc Nấy: những lậu hoặc nào phải do tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do phòng hộ được đoạn trừ đã được phòng hộ đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do thọ dụng dược đoạn trừ đã được thọ dụng đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do kham nhẫn được đoạn trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tránh né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do trừ diệt được đoạn trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tu tập được đoạn trừ đã được tu tập đoạn trừ. Nhờ đó, con người được sống trong phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau.

4/13/2020

Giới thiệu về Tam Tạng Kinh Điển


Trích dẫn từ “Hướng Dẫn Đọc Tam Tạng Kinh Điển”- Gs. U KO LAY

Tam Tạng Thánh Điển là bộ sưu tập Văn Chương Pali lớn trong đó tàng chứa toàn bộ Giáo Pháp của Đức Phật Gotama đã tuyên thuyết trong suốt bốn mươi lăm năm từ lúc ngài Giác Ngộ đến khi nhập Niết Bàn.
Pháp của Đức Phật bao quát một lãnh vực rộng về nhiều chủ đề và được làm thành từ những lời sách tấn, giải thích và pháp lệnh.
Một cách phân loại và hệ thống hoá nào đó đã được sử dụng từ lâu đời giúp ghi nhớ kỹ, bởi vì Giáo Pháp của Đức Phật chỉ được truyền miệng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Ba tháng sau khi Đức Phật Niết Bàn, Chư vị Đại Đệ Tử Phật tụng lại tất cả Giáo Pháp của Đức Từ Phụ, sau khi sưu tập chúng một cách có hệ thống và xếp loại chúng cẩn thận dưới những tiêu đề khác nhau thành những phần đặc biệt.
Những bài pháp và bài kinh nhằm cho cả tu sĩ lẫn cư sĩ, được Đức Phật giảng vào nhiều cơ hội khác nhau (cùng với một ít bài kinh được các đệ tử xuất sắc của ngài thuyết), được sưu tập và xếp loại thành những phần lớn được biết như Tạng Kinh.
Tạng lớn trong đó gồm những pháp lệnh và những lời sách tấn của Đức Phật về các phẩm hạnh, và thu thúc cả hai hoạt động thân và khẩu của tỳ khưu và tỳ khưu ni, hình thành giới luật cho họ được gọi là Tạng Luật.
Phương diện triết lý của Giáo Pháp Đức Thế Tôn sâu sắc hơn và trừu tượng hơn những bài pháp của Tạng Kinh, được xếp loại dưới tạng lớn gọi là Tạng Thắng Pháp. Thắng Pháp liên quan đến Chân Lý Tuyệt Đối, giải thích Những Chân Lý tuyệt đối và khám phá Tâm và Vật Chất và mối liên quan giữa chúng.
Tất cả những lời Phật dạy hình thành chủ đề và bản chất của Pali Canon, được chia thành ba phần gọi là Piaka- nghĩa đen là cái giỏ. Từ đó Tipiaka có nghĩa là ba cái giỏ hay ba tạng riêng biệt tàng chứa Giáo Lý của Đức Phật. Ở đây ẩn dụ 'cái giỏ' không có ý nghĩa nhiều như chức năng 'cất chứa' bất cứ thứ gì được đặt vào trong đó nhưng nó được sử dụng như một vật có thể chấp nhận được trong đó những pháp được trao truyền từ người nầy sang người khác như mang đất từ nơi khai thác bằng một đoàn công nhân làm việc theo dây chuyền.
Tam Tạng Thánh Điển được chia một cách có hệ thống và truyền từ đời nầy sang đời khác cùng với Chú Giải hình thành bộ sưu tập lớn về những tác phẩm văn học mà chư tu sĩ Phật Giáo phải học, nghiên cứu và ghi nhớ trong việc hoàn thành bổn phận học tập nghiên cứu.

Tạng Luật - Giới Luật và những Qui tắc tiến hành dành cho Tăng Đoàn
Tạng Luật được hình thành từ những điều luật được đặt ra để chỉnh đốn đạo đức tác phong của chúng đệ tử Đức Phật, những người đã được chấp nhận như tỳ khưu, tỳ khưu ni vào Tăng Đoàn. Những luật nầy gồm cả những pháp lệnh có căn cứ của Đức Phật về những phương thúc tác phomg và thu thúc những hành động về cả thân và khẩu. Chúng đề cập đến việc vi phạm giới luật, và có nhũng trườnợp hợp khác nhau của thu thúc và sự khiển trách tuỳ theo tính chất của tội.
Tạng Kinh
Tạng Kinh là bản sưu tập gồm tất cả những bài Kinh đều do Đức Phật thuyết vào những lúc khác nhau. (Một ít bài Kinh được thuyết bởi vài đệ tử xuất sắc của Đức Phật, như Đại Đức Sāriputta, Mahā Moggallāna, Ānanda, v.v.. cũng như những bài tường thuật cũng được bao gồm trong những cuốn sách của Tạng Kinh.) Những bài thuyết pháp của Đức Phật biên soạn lại với nhau trong Tạng Kinh được thuyết giảng cho thích hợp với những tình huống khác nhau, cho những người có căn cơ hoàn toàn khác nhau. Mặc dầu bài pháp hầu như có ý cho lợi ích của chư tỳ khưu, và liên quan đến việc thực hành đời sống trong sạch và với những lời giải thích về Giáo Pháp, cũng có nhiều bài pháp khác liên quan đến sự tiến bộ vật chất và tinh thần của cư sĩ.
Tạng Kinh đem lại ý nghĩa của Giáo Pháp của Đức Phật, diễn tả chúng một cách rõ ràng, che chở và hộ trì chúng chống lại sự xuyên tạc và hiểu lầm. Chỉ như sợi dây phục vụ như sợi chỉ đỏ hướng dẫn người thợ nề trong công việc của họ, chỉ như sợi dây bao quanh những đoá hoa cho hoa khỏi rơi hay khỏi tan tác, cũng như thế đối với phương pháp của Kinh, ý nghĩa những lời dạy của Đức Phật có thể làm sáng tỏ, nắm vững, hiểu đúng và cho sự bảo đảm hoàn hảo khỏi bị hiểu lầm.
Tạng Kinh được chia thành năm bộ sưu tập riêng biệt được biết như bộ (Nikāya). Đó là Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh và Tập Hợp Bộ Kinh (Tiểu Bộ Kinh).

Tạng Thắng Pháp
Bộ Pháp Tụ (Dhammasanganī), cuốn sách đầu tiên của Thắng Pháp, và Paṭṭhāna, cuốn cuối cùng, là hai cuốn quan trọng nhất trong bảy cuốn của Thắng Pháp, cung cấp như là cốt tử tinh hoa của Thắng Pháp:
Bộ Pháp Tụ - Dhammasangani (Classification of Dhamma).
Bộ Phân Tích (Phân Biệt) -  Vibhanga (Divisions).
Bộ Chất Ngữ (Giới Thuyết)  -  Dhatukatha (Discourse on Elements).
Bộ Nhân Chế Định (Nhân Thi Thuyết) - Puggala Pannatti (The Book on Individuals ).
Bộ Ngữ Tông (Biện Giải) - Kathavatthu (Points of Controversy).  
Bộ Song Đối (Song Luận) -  Yamaka (The Book of Pairs).
Bộ Vị Trí (Phát Thú) -  Patthana (The Book of Causal Relations ).

3/31/2020

Văn Tư Tu



Khi nghe người khác khen bạn hay, bạn giỏi, tâm bạn khởi vui mừng hớn hở? Và khi nghe những lời tán thán khen ngợi đó, bạn có bao giờ lắng tịnh tâm tư quán sát lời khen đó là chân thật hay chỉ là lời khen trang sức? Hoặc nếu nghe người khác phê bình chê bai, hủy báng bạn, bạn khởi tâm tức giận, buồn phiền? Hay vẫn tâm bình khí hòa định tĩnh quán xét lời chê bai đó là hợp lý cảnh tỉnh bạn, hoặc giả nó chỉ là lời thị phi!
Nghe người khác nói chuyện hoặc tự mình định làm công việc gì, bạn có thói quen suy nghĩ chín chắn rồi mới thực hành? Dẫu rằng sự suy nghĩ của con người phản ứng nhạy bén, nhanh chóng; nhưng nếu không thông qua định tĩnh tư duy quán xét sẽ không tránh khỏi sự sơ hở sai sót, nhầm lỗi.
Có người cố chấp theo cái suy nghĩ của riêng mình, không chịu nghe theo lời hay ý thiện của người khác, do vậy, khi nghe người khác thảo luận góp ý, anh ta lấy làm lơ là, không chú tâm lắng nghe, cũng chẳng dụng tâm suy nghĩ. Do vậy, công việc làm rất khó đạt được kết quả hoàn mỹ.
Đức Phật trực đối hạng người có tập tánh thưa thớt đó, từ bi khuyên nhắc: Trong sinh hoạt thường ngày, đối mặt với bất luận sự tình gì chúng ta đều cần nên vận dụng VĂN TƯ TU mới có thể tiến nhập giải quyết sự tình cực chí thông suốt tốt đẹp, và có trải qua VĂN TƯ TU mới có thể đạt được mục tiêu chính xác, an toàn. Bởi vì, VĂN là từ chỗ nghe, chỗ thấy mà sanh trưởng trí huệ. TƯ là từ chỗ tư duy, khảo nghiệm suy xét mà tăng trưởng trí huệ. TU là từ chỗ dụng công tu tập thực hành những điều thấy nghe, thông qua tư duy khảo nghiệm, quán sát mà thành tựu trí huệ.
Các nhà Nho học thường nói: “Học mà không tư duy là học vẹt”. Chỉ tư duy mà không thông qua sự sàng lọc của sự học hiểu thực nghiệm thì sự tư duy đó rất dễ rơi vào tà ngụy. Vô cùng nguy hiểm. Điều đó đã thuyết minh rõ về tầm quan trọng của tam huệ VĂN TƯ TU.
VĂN là lắng nghe người khác nói chuyện, thuyết giảng. Bạn có chuyên tâm nhất ý lắng nghe chăng? Giả như nghe có chỗ ngôn từ, ý nghĩa thiên lệch, bạn có biết chuyển hướng cách nghe không?
Bậc Bồ tát tu hai mươi lăm pháp viên thông; nhĩ căn viên thông là một trong những pháp tu quan trọng. Do vậy, Phật pháp rất chú trọng về pháp môn huân tập “đa văn”. Tai nghe so với mắt nhìn có phần quan trọng không kém. Vật ở quá xa tầm mắt hoặc sát cận tầm mắt thì không thể nhìn thấy được minh bạch, nhưng âm thanh ở xa hoặc ở sát cận tầm tai vẫn có thể nghe được rõ ràng. Những chuyện của quá khứ, mặc dù là không nhìn thấy được nguyên thể hình dạng của chúng như thế nào, nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu biết được khi nghe người khác nói, kể truyền đạt lại. Người ở cách vách tường nói chuyện, mặc dù không nhìn thấy được người, nhưng vẫn có thể nghe được tiếng nói của đối phương.
Thật ra, nghe là một nghệ thuật linh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống, và đòi hỏi chúng ta không ngừng trau dồi học tập kỹ năng thiện xảo “lắng nghe” chơn thực, chính xác. Cái mà gọi là lắng nghe tiếng vỗ tay của một bàn tay, nếu bạn lắng nghe được âm thanh từ vô thanh kia thì ngay phút giây đó bạn đã thành tựu được pháp “nghe sanh trưởng trí tuệ” (Văn sở thành tuệ) rồi!
Điều mà gọi là “Tư sở thành tuệ”, nghĩa là từ chỗ tư duy quán sát những điều thấy nghe mà tăng trưởng trí tuệ; nó đòi hỏi phải có chánh tư duy, thiện tư duy, thanh tịnh tư duy và tư duy sâu sắc, kỹ lưỡng chín chắn; Ý nói rằng phàm làm một sự việc gì đòi hỏi phải có sự suy đi nghĩ lại, khảo tới sát lui ba lượt, sau đó mới thực hành. Trên thế gian người có tiền của được xem là người có nhiều phước báo đáng quý; nhưng người có tư tưởng tư duy trong sáng, chánh trực không những đáng quý mà còn được tôn kính.
Trên thế gian các nhà triết học giải thích ra được nhiều vấn đề của vũ trụ đều là nương vào tâm não tư duy quán sát khảo nghiệm mà khai sáng vấn đề. Tất cả các nhà khoa học kỹ thuật trên thế giới phát minh ra bao nhiêu những khoa kỹ văn minh cũng đều thông qua tư tưởng tư duy, thực nghiệm mà thành tựu. Và biết bao nhà văn học, văn từ phong phú, ý tứ trong sáng, có đủ lực cảm hóa lòng nhân cũng đều là kết quả từ sự tư duy mà thành. Cũng vậy, trong cuộc sống hằng ngày, nếu chúng ta thường biết huân tập tư duy, phản tỉnh, quán sát nội tâm nhận chân được thật tướng của các pháp thì sự tư duy đó rất tự nhiên tăng trưởng thành trí tuệ.
“Tu sở thành tuệ” là gì? Tu, là thực tiễn hành trì theo giáo pháp của Đức Phật chỉ dạy, hoặc hành trì những điều đã học hỏi thấy nghe được từ các bậc thánh nhân, thầy tổ v..v… mà vận dụng tư duy, phản tỉnh sửa đổi ba nghiệp thân, khẩu, ý mình từ những điểm hư xấu, bất thiện, bi quan bế tắc trở thành trong sáng thiện mỹ, lạc quan. Tu có nhiều hình thức như khổ tu, lạc tu, chơn tu, nội tu, cộng tu, tự tu… Sự tu tập được dụ như y phục rách rồi, cần phải vá lại mới có thể mặc được. Phòng xá hư hại cần phải tu sửa lại mới có thể ở được. Cũng vậy, thân tâm con người một khi đã có vết dơ nhớp hoặc có lỗ khuyết hỏng hư hại, đương nhiên càng nên cần phải sửa đổi tu bổ mới đảm bảo được phẩm chất hữu dụng của đời người, đồng thời từ chỗ lập nguyện tu dưỡng sẽ tạo nên động lực vi diệu thăng hoa cuộc sống đến chỗ cực chí mục tiêu.
Đường dài vạn dặm, chỉ cần bạn dụng công khởi chân cất bước thì lo gì không đến đích? Sự nghiệp ngàn muôn, chỉ cần bạn dũng cảm đảm nhận tiến hành thực tiễn thì lo gì sự nghiệp không thành công? Tu hành sẽ thành tựu được nhân phẩm và phong cách trang nghiêm; tu tâm sẽ thành tựu được đạo nghiệp thậm thâm vi diệu; chỉ cần chúng ta kiên tâm quyết chí thực hành, tất nhiên sẽ có quả chứng. Đó là thành quả diệu dụng của “Tu sở thành tuệ”.
Từ cái diệu dụng thực tiễn của VĂN TƯ TU đối với cuộc sống con người, Phật giáo khuyến cáo chúng ta không thể thiếu và không thể xem nhẹ thực tiễn hành trì VĂN TƯ TU, bởi vì có VĂN TƯ TU mới có thể tiến sâu vào cực chí địa linh chánh quả.
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười.

Quá trình văn tư tu
Cái nhìn về đạo chân chính bắt đầu từ văn, tư và tu, gọi là tam học. Văn là học hỏi. Những đệ tử của Bụt (Budha - Đức Phật Thích Ca) gọi là thanh văn (sravaka), là người nghe giáo lý để tu học. Khi nghe giảng dạy về giáo lý, khi đọc Kinh, khi pháp đàm, ta thực tập văn học. Văn học tức là học nghe. Học nghe, ta phải có thái độ cởi mở, phải thao thức muốn hiểu, muốn thực hành, như thế mới gọi là văn học. Còn nếu nghe để đàm luận, nghe chỉ để phê phán và chỉ trích, nghe để chứa chấp kiến thức rồi khoe khoang, đó chưa phải là văn học.
Tư là suy gẫm, tư duy, quán chiếu những điều mình nghe. Ta nghe một điều gì, dù điều đó từ một vị đạo sư nổi tiếng nói ra ta cũng phải tư, tức là phải thẩm xét giá trị ứng dụng của những điều đó. Ta không mù quáng nghe theo vô điều kiện. Sau khi nghe rồi, phải tư. Trong khi đang nghe, không tư, nghe là nghe mà thôi. Nghe xong rồi lúc đó mới quán chiếu, mới suy tư (reflecting). Tư là đem kinh nghiệm, đem trí tuệ, đem khổ đau của mình ra để mà xét nghiệm. Xem thử những điều mình nghe có thể trả lời được những nỗi đau khổ, những thắc mắc, những thao thức của đời mình hay không, như thế gọi là tư học.
Nghe giống như gieo hạt giống vào đất. Thực tập là tưới tẩm cho hạt giống có thể nẩy mầm. Thực tập là tu, giai đoạn thứ ba gọi là tu học. Nếu không đem ra thực tập thì việc nghe không có lợi ích nào cả. Trong quá trình văn, tư, tu về đạo ta sẽ thấy được bản chất của đạo là làm bằng khổ, ta thấy khổ ở trong đạo. đạo Bụt phát sinh là vì cuộc đời khổ đau, cho nên cuộc đời khổ đau là chất liệu làm ra đạo. Sự tỉnh thức, sự thương yêu phát sinh từ khổ đau. đạo và khổ tương tức. Trong quá trình văn, tư và tu chúng ta thấy khổ và tập ở trong đạo. Chúng ta biết rằng tập, những nguyên do làm ra khổ, nếu chuyển hóa được, thì khổ sẽ vắng mặt. Ba yếu tố khổ, tập và diệt có thể nhìn thấy trong đạo. Tâm Kinh nói: "Không đạo, có nghĩa là đạo không có ở ngoài khổ, tập và diệt". Không có cái này thì không có cái kia. Năm chữ "không khổ, tập, diệt, đạo" thuộc về chân đế, đó là sự thật vô lậu. Ngay trong quá trình tiếp xúc với mặt tục đế, ta đã thấy được bản chất của đạo, và chuyển hóa được tập. Nếu thấy cho rõ thì ta ngừng lại ngay, tự nhiên đi tới diệt. Chuyển hóa tập, thành tựu diệt sẽ làm vơi khổ, khiến cho cái khổ biến đi.
Nhờ quá trình văn, tư và tu mà lời nói và hành động của ta mỗi lúc mỗi tương ứng. Ví dụ một người giảng giải rất hay về năm giới, nhưng vẫn chưa thực tập năm giới một cách vững chãi. Nhờ quá trình văn, tư và tu nên sự thực tập năm giới càng ngày càng vững; và lời nói của ta đi đôi với hành động, ngôn hành tương ưng. Nói theo Vương Dương Minh là tri hành hợp nhất.

Ba môn học trí tuệ còn gọi là Tam Tuệ Học, bao gồm: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ.
Ba phương pháp này giúp người học Phật nhận định rõ ràng đường hướng trong quá trình tu tập để đưa đến sự giác ngộ.
Thành phần của Tam Tuệ Học
Văn tuệ: trí tuệ phát sinh từ sự biết lắng nghe giáo pháp.
Tư tuệ: trí tuệ phát triển lớn dần từ sự tư duy, thẩm định vấn đề đã nghe.
Tu tuệ: trí tuệ tròn sáng do biết lắng nghe, tư duy và thực hành.
Phương pháp tu tập theo Tam Tuệ Học
Văn tuệ: lắng nghe chánh pháp, đọc tụng kinh sách, xem băng đĩa Phật giáo,… để khai thông trí tuệ.
Tư tuệ: tư duy, suy xét và nghiên cứu những lời dạy của Phật để trí tuệ tăng trưởng, hiểu rõ chân lý.
Tu tuệ: sau khi lắng nghe, suy nghĩ, biết được con đường chân chánh, chúng ta áp dụng vào cuộc sống để chuyển hóa nỗi khổ niềm đau.
Mối tương quan giữa Văn - Tư - Tu
Văn, Tư, Tu được xem như ba mắt xích, gắn liền và hỗ tương cho nhau trong quá trình tu tập.
Nếu chỉ nghe mà không suy nghĩ thì không thể phân biệt đúng sai để tìm ra chân lý.
Biết chân lý nhưng không thực hành thì không thể đạt đến an lạc, giải thoát.
Chỉ thực hành mà không học hỏi, thiếu suy nghĩ, thì việc làm sẽ mù quáng.
Kết Luận
Văn, Tư, Tu là ba phương pháp mà người học Phật không thể không hành trì đầy đủ, giống như kiềng ba chân không thể thiếu một chân.
Cổ Đức dạy: “Tu mà không học là tu mù, Học mà không tu như đãy đựng sách.”

(Sưu tầm)