1- Dục Lậu (kāmāsava).
Nghĩa chữ của “dục lậu” là do dục, bởi dục mà tươm rỉ ra bợn nhơ phiền não.
Dục lậu còn gồm những từ đồng một thuộc tính như: Ô nhiễm, hư hỏng, đồi bại, dơ bẩn, độc hại, bợn nhơ, xú uế, mê tối, lầm lạc… Mọi luyến ái dục lạc ngũ trần, đắm say vật chất đều thuộc về dục lậu.
2- Hữu Lậu (bhavāsava).
Chỉ cho sự tham ái, đeo dính, muốn có mặt, muốn tồn tại trong các cảnh giới. Nói cách khác – bhava (hữu) là hạt giống, là chủng tử; nó là tên gọi khác của hành (ái, thủ, hữu) đưa đến sanh, lão tử ở trong 12 duyên khởi. Với nghĩa này nên có ba hữu: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.
3- Kiến Lậu (diṭṭhāsāva).
Là gồm chung là 62 tà kiến như đã được đề cập đến trong kinh Brāhmajāla (Phạm võng). Do sự luyến ái ý tưởng, tư tưởng; các quan điểm, lý thuyết, triết lý cục bộ, giới hạn, lầm lạc, nghiêng lệch… lại còn chấp thủ vào chúng nữa nên đưa đến đối kháng, tranh chấp, bảo vệ. Đấy chính là kiến lậu. Là những phiền não thuộc về sở tri, kiến thức, quan niệm.
Nếu dục lậu, hữu lậu thuộc về phiền não tâm thì kiến lậu thuộc về phiền não trí – chúng tươm rỉ mọi dơ uế, bẩn thỉu từ thế giới tinh thần.
4- Vô Minh Lậu (avijjāsava).
Là trạng thái vô minh liên quan đến Tứ Diệu Đế, ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên… Đấy là không biết gì về khổ, về nguyên nhân khổ, sự diệt khổ và con đường khổ diệt. Nói theo thiền quán minh sát là không biết gì về tiến trình sinh diệt của ngũ uẩn, của 12 duyên khởi; không biết rõ, thấy rõ “cái ta” là giả ngã, không thực tính, không thực thể, là tánh không.
Cách đoạn trừ (Kinh Tất cả Lậu hoặc)
1) Trừ diệt lậu hoặc bằng tri kiến:
Phàm phu do không tuệ tri nên tác ý các pháp
không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.
Không cần tác ý mà lại tác ý: do vậy 3 lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa
sanh được sanh khởi, hay đã sanh được tăng trưởng.
Tác ý các pháp cần tác ý: nhờ đó, 3 lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa
sanh không sanh khởi, hay đã sanh được trừ diệt.
Hậu quả của không như lý tác ý: sáu tà kiến (còn gọi kiến trù lâm, kiến hoang
vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược) xuất hiện: 1) Ta có tự
ngã”, 2) Ta không có tự ngã, 3) Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã, 4) Do tự
mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã, 5) Không do tự mình, ta tưởng tri ta có
tự ngã, 6) Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện
ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng,
hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại.
Do bị tà kiến trói buộc, phàm phu không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Tà kiến:
Thường kiến có 3:
1-Tin có một đấng chí tôn tạo ra muôn loài.
2- Tin vào một linh hồn thường hằng bất biến có một cái tôi đi từ đời này qua đời khác .
3- Tin có một thế giới vĩnh hằng, miên viễn, vĩnh cửu trường sinh bất lão.;
Đoạn kiến có 3:
Akiriyaditthi : Vô Hành Kiến - Cho rằng trên đời không có thiện ác muốn làm gì thì làm, không có để lại kết quả gì hết, thiện ác giống nhau.
Ahetukaditthi: Vô Nhân Kiến
Cho rằng mọi thứ ở đời này ngẫu nhiên mà có. Thay vì những người biết đạo thì
hiểu rằng mọi thứ ở đời này đều do các duyên, duyên tốt hoặc là duyên xấu,
duyên tích cực hoặc là tiêu cực. Mọi thứ ở đời đều do duyên mà có, rồi cũng sẽ
do duyên mà mất, không có gì trên đời này mà ngẫu nhiên mà có.
Natthikaditthi: Vô Hữu Kiến .
Cho là cái gì mình không thấy được, không hiểu được, không chứng minh được thì
cái đó không có ở đời.
Nhờ như lý tác ý: “Đây là khổ,” “Đây là khổ tập,” “Đây là khổ diệt,” “Đây là con đường đưa đến khổ diệt,” ba kiết sử là thân kiến, nghi, giới cấm thủ được trừ diệt. Đây gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.
2) Trừ diệt lậu hoặc bằng phòng hộ:
Với như lý giác sát, người trí sống phòng hộ mắt,
tai, mủi, lưởi, thân và ý; nhờ đó, các lậu hoặc được diệt trừ và nhiệt não
không còn.
3) Trừ diệt lậu hoặc bằng thọ dụng:
a) Y phục để che đậy sự trần truồng, ngăn ngừa
lạnh, nóng, ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát.
b) Thực phẩm không phải để hưởng thụ, thoã mãn, tự làm đẹp thân, mà chỉ để thân
được sống lâu và sống khoẻ, hỗ trợ con đường tu tập, nhờ đó diệt trừ các cảm thọ
cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, không còn lỗi lầm, sống được an ổn.
c) Sàng toạ chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.
d) Dược phẩm để trị bệnh, ngăn chận các cảm giác khổ đã sanh, để được ly khổ
hoàn toàn.
4) Trừ diệt lậu hoặc bằng kham nhẫn:
a) Kham nhẫn khí hậu và thời tiết: lạnh, nóng.
b) Kham nhẫn thực phẩm: đói, khát.
c) Kham nhẫn ngoại duyên: sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời,
các loài bò sát.
d) Kham nhẫn thị phi: kham nhẫn những cách nói mạ lỵ, phỉ báng.
e) Kham nhẫn cảm thọ khổ của thân (thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối,
không sung sướng, không thích thú, chết điếng người).
5) Trừ diệt lậu hoặc bằng tránh né:
a)
Tránh né thú dữ: voi, ngựa, cọp, rắn, chó sói v.v…
b) Tránh né ngoại cảnh: khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng
nước.
c) Tránh né nơi chốn: những trú xứ không nên lai vãng, những chỗ ngồi không
đáng ngồi.
d) Tránh né người bất thiện: bạn bè hay người ác độc nếu giao du thì bị người
trí nghi ngờ, khinh thường.
6) Trừ diệt lậu hoặc bằng trừ diệt:
a) Dục niệm: tư duy, ý niệm hướng về dục, ước
muốn thoã mãn dục tính, lệ thuộc dục vọng; xem khoái lạc giác quan là cứu cánh
của cuộc sống.
b) Sân niệm: tư duy, ý niệm hay khuynh hướng bực tức, giận dữ, chống đối đối tượng,
thể hiện qua lời tục tĩu, thô bạo, thiếu ái ngữ; qua hành động nóng nải và các
biểu hiện nôn nóng.
c) Hại niệm: tư duy, ý niệm hay khuynh hướng tiêu diệt, cản phá đối tượng không
thích; hãm hại, trù dập, ức hiếp người khác.
d) Bất thiện, đã khởi lên, đang hiện hữu hay sẽ có mặt; không để chúng tồn tại
lâu dài trong ý nghĩ và việc làm.
7) Trừ diệt lậu hoặc bằng tu tập (bhāvanā):
Ngoài hỗ trợ bằng phương pháp đoạn trừ lậu hoặc trên nền tảng ngăn ngừa các tâm
lý dục, sân, hại và các pháp bất thiện, hành giả còn phải vận dụng 7 yếu tố
giác ngộ: a) chánh niệm, b) trạch pháp, c) tinh tấn, d) hoan hỷ, e) khinh an,
f) định tĩnh, g) xả ly, hướng đến viễn ly, ly tham và giải thoát.
Bệnh Nào Thuốc Nấy: những lậu hoặc nào phải do tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do phòng hộ được đoạn trừ đã được phòng hộ đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do thọ dụng dược đoạn trừ đã được thọ dụng đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do kham nhẫn được đoạn trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tránh né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do trừ diệt được đoạn trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tu tập được đoạn trừ đã được tu tập đoạn trừ. Nhờ đó, con người được sống trong phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau.