3/06/2020

Đối Tượng Của Thiền Định & Sáu loại tánh của hành giả hành thiền định


A. Đối tượng của thiền định tất cả gồm có 40 đề mục:
- 10 đề mục hình tròn (kasia).
- 10 đề mục tử thi bất tịnh (asubha).
- 10 đề mục tùy niệm (anussati).
- 4 đề mục tứ vô lượng tâm (appamaññā).
- 1 đề mục quán vật thực đáng nhờm (āhāre pa
ikkūlasaññā).
- 1 đề mục phân tích tứ đại (catudhātuvavatthāna).
- 4 đề mục vô sắc giới (āruppa).
Mười đề mục hình tròn kasia [2] 
1- Đề mục đất: Dùng đất làm đối tượng thiền định.
2- Đề mục nước: Dùng nước làm đối tượng thiền định.
3- Đề mục lửa: Dùng lửa làm đối tượng thiền định.
4- Đề mục gió : Dùng gió làm đối tượng thiền định.
5- Đề mục màu xanh: Dùng màu xanh làm đối tượng thiền định.
6- Đề mục màu vàng: Dùng màu vàng làm đối tượng thiền định.
7- Đề mục màu đỏ: Dùng màu đỏ là đối tượng thiền định.
8- Đề mục màu trắng: Dùng màu trắng làm đối tượng thiền định.
9- Đề mục ánh sáng: Dùng ánh sáng làm đối tượng thiền định.
10- Đề mục hư không: Dùng hư không làm đối tượng thiền định.
Đó là 10 đề mục hình tròn kasia, làm đối tượng thiền định.
Mười đề mục tử thi bất tịnh (asubha)
1- Đề mục tử thi trải qua 2-3 ngày, làm đối tượng thiền định.
2- Đề mục tử thi biến sang màu tím thâm, làm đối tượng thiền định.
3- Đề mục tử thi chảy máu mủ, làm đối tượng thiền định.
4- Đề mục tử thi bị chặt đứt ra thành nhiều đoạn, làm đối tượng thiền định.
5- Đề mục tử thi bị chó, quạ, diều hâu, kên kên, cắn xé bỏ rải rác, làm đối tượng thiền định
6- Đề mục tử thi bị chặt tay, chân, đầu, mình bỏ rải rác, làm đối tượng thiền định.
7- Đề mục tử thi bị đâm lủng nhiều lỗ, làm đối tượng thiền định.
8- Đề mục tử thi có máu chảy lai láng, làm đối tượng thiền định.
9- Đề mục tử thi có giòi, làm đối tượng thiền định.
10- Đề mục tử thi còn bộ xương trắng, làm đối tượng thiền định.
Đó là 10 đề mục tử thi bất tịnh, làm đối tượng thiền định.
Mười đề mục tùy niệm (anussati)
1- Đề mục niệm 9 Ân Đức Phật.
2- Đề mục niệm 6 Ân Đức Pháp.
3- Đề mục niệm 9 Ân Đức Tăng.
4- Đề mục niệm về giới trong sạch của mình.
5- Đề mục niệm về sự bố thí của mình.
6- Đề mục niệm về 5 pháp của chư thiên có nơi mình.
7- Đề mục niệm về sự chết.
8- Đề mục niệm về 32 thể trược.
9- Đề mục niệm về trạng thái tịch tịnh an lạc Niết Bàn.
10- Đề mục niệm hơi thở vô – hơi thở ra.
Đó là 10 đề mục tùy niệm, làm đối tượng thiền định.
Bốn đề mục tứ vô lượng tâm (appamaññā)
1- Đề mục niệm rải tâm từ, chọn chúng sinh đáng yêu, làm đối tượng thiền định.
2- Đề mục niệm rải tâm bi, chọn chúng sinh đang khổ, làm đối tượng thiền định.
3- Đề mục niệm rải tâm hỉ, chọn chúng sinh đang hưỡng sự an lạc hạnh phúc, làm đối tượng thiền định.
4- Đề mục niệm rải tâm xả, chọn chúng sinh có nghiệp là của riêng mình, làm đối tượng thiền định.
Đó là 4 đề mục tứ vô lượng tâm, làm đối tượng thiền định.
Một đề mục quán vật thực bất tịnh, làm đối tượng thiền định.
Một đề mục phân tích tứ đại: đất, nước, gió, lửa, làm đối tượng thiền định.
Bốn đề mục vô sắc giới riêng biệt của 4 bậc thiền vô sắc giới
1- Hư không vô biên làm đối tượng thiền định của không vô biên xứ thiền.
2- Thứ vô biên (tâm không vô biên xứ thiền) làm đối tượng thiền định của thức vô biên xứ thiền.
3- Vô sở hữu làm đối tượng thiền định của vô sở hữu xứ thiền.
4- Rất vắng lặng, rất vi tế của tâm vô sở hữu xứ thiền làm đối tượng thiền định của phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền.
Đó là 4 đề mục thiền vô sắc giới, làm đối tượng thiền định.
Pháp hành thiền định gồm 40 đề mục, khi hành giả tiến hành thiền định chỉ có thể chọn 1 trong 36 đề mục thuộc về thiền sắc giới. Còn 4 đề mục thuộc thiền vô sắc giới, hành giả sau khi đã chứng đắc 5 bậc thiền sắc giới xong rồi, mới tiếp tục tiến hành thiền vô sắc giới. Thiền vô sắc giới có 4 bậc, mỗi bậc thiền có đối tượng riêng biệt tuần tự từ thấp đến cao.
Muốn cho sự tiến hành thiền định được phát triển tốt, hành giả cần phải biết chọn đề mục thích hợp với bản tánh riêng của mình. Đó là điều trọng yếu đối với hành giả.

B. Sáu loại tánh của hành giả hành thiền định
Hành giả nói chung có 6 loại tánh (carita).
1- Rāgacarita: Tánh tham dục.
2- Dosacarita: Tánh sân hận.
3- Mohacarita: Tánh si mê.
4- Vitakkacarita: Tánh suy diễn.
5- Saddhācarita: Tánh tín.
6- Buddhicarita: Tánh giác.
Trong một người có thể có nhiều tánh kể trên, song có một tánh nào đó dễ phát sanh, thường phát sanh nhiều hơn các tánh khác, nên gọi người ấy có tánh ấy.
Đề mục thiền định thích hợp và không thích hợp với mỗi tánh của hành giả
1- Tánh tham dục (rāgacarita): Người nào thường phát sanh tâm tham dục trong những đối tượng đáng hài lòng, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh tham dục.
Hành giả có tánh tham dục, nếu tiến hành thiền định trong 8 đề mục như sau:
- 4 Đề mục tứ vô lượng tâm.
- 4 Đề mục màu sắc (xanh, vàng, đỏ, trắng).
Những đề mục này làm cho tâm tham dục càng tăng trưởng, đồng thời thiền định không thể phát triển được.
Vì vậy, 8 đề mục thiền định này không thích hợp đối với hành giả có tánh tham dục.
Hành giả có tánh tham dục nên tiến hành thiền định trong 11 đề mục như sau:
- 10 Đề mục tử thi bất tịnh.
- 1 Đề mục niẹm 32 thể trược trong thân.
Những đề mục này làm cho vắng lặng được tâm tham dục, đồng thời làm cho thiền định có thể phát triển.
Vì vậy, 11 đề mục thiền định này thích hợp với hành giả có tánh tham dục.
2- Tánh sân hận (dosacarita): Người nào thường phát sanh tâm sân hận, nóng nảy, bực bội trong những đối tượng không đáng hài lòng, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh sân han.
Hành giả có tánh sân hận, nếu tiến hành thiền định trong 11 đề mục như sau:
- 10 Đề mục tử thi bất tịnh.
- 1 Đề mục niẹm 32 thể trược trong thân.
Những đề mục này làm cho tâm sân hận càng tăng trưởng, đồng thời thiền định không thể phát triển lên được.
Vì vậy, 11 đề mục thiền định này không thích hợp đối với hành giả có tánh sân hận.
Hành giả có tánh sân hận nên tiến hành thiền định trong 8 đề mục như sau:
- 4 Đề mục tứ vô lượng tâm.
- 4 Đề mục màu sắc (xanh, vàng, đỏ, trắng).
Những đề mục này làm cho vắng lặng được tâm sân hận, đồng thời làm cho thiền định có thể phát triển.
Vì vậy, 8 đề mục thiền định này thích hợp với hành giả có tánh sân hận.
3- Tánh si mê (mohacarita): Người nào thường phát sanh tâm si mê, phóng tâm và hoài nghi trong các pháp, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh si mê.
Hành giả có tánh si mê, nếu tiến hành thiền định trong 4 đề mục như sau:
- Đề mục niệm về chết.
- Đề mục niệm về trạng thái tịch tịnh an lạc Niết Bàn.
- Đề mục quán tưởng vật thực bất tịnh.
- Đề mục quán xét phân tích tứ đại: đất, nước, lửa, gió.
Những đề mục này rất vi tế sâu sắc, khó mà thấy rõ được, thì chỉ làm cho tâm si mê càng thêm tối tăm, đồng thời thiền định không thể phát triển được.
Vì vậy, 4 đề mục thiền định này không thích hợp đối với hành giả có tánh si mê.
Hành giả có tánh si mê nên tiến hành thiền định đề mục niệm hơi thở vô – hơi thở ra rõ ràng không có gì đáng hoài nghi cả. Đề mục này có thể làm cho vắng lặng được tâm si mê, đồng thời làm cho thiền định có thể phát triển.
Vì vậy, đề mục thiền định niệm hơi thở vô – hơi thở ra này thích hợp với hành giả có tánh si mê.
4- Tánh suy diễn (vitakkacarita): Người nào thường suy diễn lung tung, nói năng đủ chuyện, làm việc gì cũng không đến nơi đến chốn…, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh suy diễn.
Hành giả có tánh suy diễn, nếu tiến hành thiền định trong 4 đề mục như sau:
- Đề mục niệm về chết.
- Đề mục niệm về trạng thái tịch tịnh an lạc Niết Bàn.
- Đề mục quán tưởng vật thực bất tịnh.
- Đề mục quán xét phân tích tứ đại: đất, nước, lửa, gió.
Những đề mục này rất vi tế sâu sắc, khó mà thấy rõ được, thì chỉ làm cho tâm suy diễn lung tung thêm, đồng thời thiền định không thể phát triển được.
Vì vậy, 4 đề mục thiền định này không thích hợp đối với hành giả có tánh suy diễn.
Hành giả có tánh suy diễn nên tiến hành thiền định đề mục niệm hơi thở vô – hơi thở ra rõ ràng không có gì đáng suy diễn nhiều. Đề mục này có thể làm cho vắng lặng được suy nghĩ mung lung, đồng thời làm cho thiền định có thể phát triển.
Vì vậy, đề mục thiền định niệm hơi thở vô – hơi thở ra này thích hợp với hành giả có tánh suy diễn.
5- Tánh tín (saddhācarita): Người nào thường có đức tin trong sạch nơi Tam bảo: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, tin phước, tin tội, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh tín.
Hành giả có tánh tín nên tiến hành thiền định trong 6 đề mục như sau:
- Niệm Ân 9 Đức Phật.
- Niệm Ân 6 Đức Pháp.
- Niệm Ân 9 Đức Tăng.
- Niệm về giới trong sạch của mình.
- Niệm về sự bố thí của mình.
- Niệm về 5 pháp của chư thiên có nơi mình,
Những đề mục này rất thích hợp với hành giả có tánh tín, càng làm cho đức tin được tăng trưởng.
6- Tánh giác (buddhicarita): Người nào thường có trí tuệ quán xét các pháp vi tế sâu sắc, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh giác.
Hành giả có tánh giác nên tiến hành thiền định trong 4 đề mục như sau:
- Niệm về sự chết.
- Niệm về trạng thái tịch tịnh an lạc Niết Bàn.
- Quán tưởng về đề mục vật thực bất tịnh.
- Quán xét phân tích đề mục tứ đại: đất, nước, lửa, gió,
Những đề mục này rất vi tế, sâu sắc, thích hợp với hành giả có tánh giác, để làm cho trí tuệ tăng trưởng sâu sắc thêm nhiều.
Đề mục thiền định thích hợp cả 6 tánh
Những đề mục thiền định thích hợp cho tất cả 6 tánh hành giả như sau:
- 6 Đề mục hình tròn kasia: đất, nước, lửa, gió, ánh sáng, hư không.
- 4 Đề mục vô sắc giới.
Những đề mục này thích hợp cho tất cả mọi hành giả, không phân biệt tánh nào.
Đặc biệt, đối với hành giả có tánh si mê, nếu tiến hành đề mục hình tròn kasia đất,… nên làm hình tròn đường kính rộng hơn bình thường, so với các hành giả khác, để tâm trí không bị khó chịu, hay quên, phóng tâm. Và đối với hành giả có tánh suy diễn, nếu tiến hành đề mục hình tròn kasia đất,… nên làm hình tròn đường kính hẹp hơn bình thường, so với các hành giả khác, để tâm an trú trong đề mục hình tròn kasia dễ dàng.
(Trích từ: Tìm hiểu PHÁP HÀNH THIỀN TUỆ - Tỳ khưu HỘ PHÁP)