Xin hãy đảnh lễ đến Đức Phật bằng cách tụng NamoTassa 3 lần:
Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa (3lần)
Tôi sẽ dạy về Niệm Hơi Thở. Tôi phải lặp đi lặp lại. Có nhiều vấn đề,
tiếng Anh của tôi tệ quá, họ không hiểu tiếng Anh của tôi, đây là một vấn đề.
Tôi muốn trích dẫn phần dạy về Niệm Hơi Thở do Đức Phật dạy trong bài kinh Đại
Niệm Xứ:
“Dīghaṁ vā
assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti
pajānāti,
dīghaṁ vā
passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti
pajānāti.”
Đây là giai đoạn 1.
Nghĩa của nó là gì?
“Hít vào một hơi thở dài, vị ấy biết tôi đang hít vào một hơi thở dài,
“Hít vào một hơi thở dài, vị ấy biết tôi đang hít vào một hơi thở dài,
Thở ra một hơi thở dài, vị ấy biết tôi đang thở ra một hơi thở dài”.
Đây là giai đoạn 1.
Giai đoạn 2 là:
“Rassaṁ vā
assasanto ‘rassaṁ assasāmī’ti
pajānāti,
rassaṁ vā
passasanto ‘rassaṁ
passasāmī’ti pajānāti.”
“Hít vào một hơi thở ngắn, vị ấy biết tôi đang hít vào một hơi thở ngắn,
Thở ra một hơi thở ngắn, vị ấy biết tôi đang thở ra một hơi thở ngắn”.
Đây là giai đoạn 2.
Giai đoạn 3 là:
‘Sabbakāyapaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati,
‘Sabbakāyapaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati
“Kinh nghiệm trọn vẹn thân hơi thở, tôi sẽ hít vào, như thế vị ấy luyện
tập.
Kinh nghiệm trọn vẹn thân hơi thở, tôi sẽ thở ra, như thế vị ấy luyện
tập”. Đây là giai đoạn 3.
Giai đoạn 4 là:
“ ‘Passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ assasissāmī’ti sikkhati,
Passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ passasissāmī’ti sikkhati”
“An tịnh thân hơi thở, tôi sẽ hít vào, như thế vị ấy luyện tập,
An tịnh thân hơi thở, tôi sẽ thở ra, như thế vị ấy luyện tập”
Đây là giai đoạn 4.
Bốn giai đoạn này dẫn đến đạt tới Tứ thiền. Phần giải thích này để thực
hành thiền Chỉ, Samatha. Vậy là trong việc thực hành thiền Chỉ này, có 4 giai
đoạn:
Hơi thở dài
Hơi thở ngắn
Trọn vẹn thân hơi thở
An tịnh hơi thở
Khi đang thực hành Ānāpāna theo 4 giai đoạn này, với một số hành giả khi
đang thực hành để hiểu rõ hơi thở dài và hơi thở ngắn, lúc ấy nimitta có thể
xuất hiện; đối với một số hành giả khác, khi đang thực hành hiểu rõ hơi thở
dài, hơi thở ngắn và trọn vẹn thân hơi thở, lúc đó nimitta cũng có thể xuất
hiện. Với một số hành giả nữa, khi đang thực hành thấy trọn vẹn hơi thở dù nó
là dài hay ngắn, lúc đó nimitta mới có thể xuất hiện. Nhưng cũng có số hành giả
khi thực hành đến giai đoạn an tịnh thân hơi thở chỉ lúc ấy nimitta mới xuất
hiện.
Sự khác nhau của các giai đoạn này là gì? Khi thực tế thực hành, chỉ có
2 loại hơi thở: hơi thở dài và hơi thở ngắn. Dù là hơi thở dài hay hơi thở
ngắn, hành giả phải cố gắng hiểu rõ trọn vẹn thân hơi thở: khi nó dài, vị ấy
nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở; khi nó ngắn, vị ấy nên gắng biết rõ
trọn vẹn thân hơi thở. Khi thực hành theo cách này lúc định phát triển sâu hơn
thì hơi thở sẽ trở nên vi tế, điều này là tự nhiên. Khi hơi thở trở nên vi tế,
lúc này, vị ấy nên gắng hiểu rõ 4 giai đoạn kết hợp cùng nhau; 4 giai đoạn có
nghĩa hơi thở dài, hơi thở ngắn, trọn vẹn thân hơi thở và an tịnh thân hơi thở.
Bằng cách nào? Khi hơi thở trở nên vi tế, lúc này vị ấy chỉ nên gắng hiểu rõ
trọn vẹn thân hởi thở dài và vi tế dài ấy hay trọn ven thân hơi thở ngắn và vi
tế ngắn ấy mà thôi. Khi hơi thở trở nên vi tế, lúc này nếu vị ấy có thể định
trên hơi thở vi tế, không bao lâu nimitta sẽ xuất hiện. Khi nimitta xuất hiện,
nimitta và hơi thở sẽ hòa quyện và xáp nhập thành một. Lúc này tâm tự động dính
chặt vào nimitta, vị ấy chỉ nên tập trung vào nimitta mà thôi. Khi nimitta trở
thành Paṭibhāga
nimitta, tợ tướng và nếu vị ấy có thể tập trung trên tợ tướng ấy, rồi định an
chỉ sẽ xuất hiện, an chỉ định ấy được gọi là định bậc thiền, định Sơ thiền mà
thôi. Tối qua, tôi đã giải thích về Sơ thiền này rồi. Nếu quý vị đã xong phần 5
Pháp thuần thục trong Sơ thiền, nếu quý vị muốn tiến lên Nhị thiền, quý vị nên
thực hành như thế nào? Quý vị nên gắng hiểu rõ 2 khuyết điểm của Sơ thiền và 1
ưu điểm của Nhị thiền. 2 khuyết điểm của Sơ thiền là gì?
Sơ thiền này rất gần với các triền cái. Có 5 triền cái:
Tham dục
Sân
Trạo cữ
Hôn trầm, thụy miên
Nghi
Tổng cộng có 5 triền cái. Khi một hay hai hay nhiều triền cái viếng thăm
tâm quý vị, lúc ấy định của quý vị sẽ thoái giảm. Khi các triền cái này không
viếng thăm, định của quý vị có thể phát triển. Khi định của quý vị trở nên dần
dần sâu hơn, nimitta sẽ xuất hiện, lúc ấy nếu quý vị có thể tập trung vào
nimitta, Định sẽ phát triển, rồi dần dần quý vị sẽ thấy nimitta chuyển sang Paṭibhāga nimitta, tợ tướng hay
quang tướng. Nếu quý vị có thể tập trung trên tợ tướng thì định của quý vị sẽ
dần sâu hơn nữa. Và không lâu sau, an chỉ định sẽ xuất hiện. Trước giai đoạn an
chị định, định của quý vị được gọi là cận định, upacàra samàdhi. Vào lúc cận
định, 5 triền cái sẽ không khởi sinh trong tâm quý vị. Cận định và an chỉ định
rất gần với nhau. Bởi lý do này khi cận định sinh khởi, các triền cái sẽ biến
mất. Cận định và an chỉ định rất gần với nhau. Tương tự, Sơ thiền này cũng rất
gần với 5 triền cái. Đây là một trong những khuyết điểm của Sơ thiền. Một
khuyết điểm khác nữa: xin hãy suy xét về các thiền chi trở lại: trong số 5
thiền chi, Tầm và Tứ, sự áp tâm (hay hướng tâm) vào đối tượng và sự trụ tâm
trên đối tượng, Tầm và Tứ là thô tháo. Quý vị phải áp tâm mình vào tợ tướng hơi
thở lặp đi lặp lại vì nếu không thể áp tâm vào đối tượng tợ tướng lặp đi lặp
lại, định của quý vị sẽ thoái giảm. Vì vậy mà sự áp tâm vào đối tượng này là
còn thô tháo, vì quý vị còn muốn định của mình sâu hơn nữa. Không cần áp tâm
vào đối tượng tợ tướng mà nếu quý vị vẫn có thể định trên đối tượng tợ tướng,
sẽ rất tốt. Quý vị nên suy xét sự khuyết điểm của Tầm và Tứ như thế.
Rồi đến suy xét một ưu điểm, một ưu điểm là tính an tịnh của 3 thiền
chi, 3 thiền chi là Hỷ, Lạc và Nhất tâm, 3 thiền chi này an tịnh hơn, chúng là
các thiền chi của Nhị thiền. Nhị thiền chỉ có 3 thiền chi, nên chúng an tịnh
hơn. Sau khi suy xét như vậy, quý vị nên tập trung trở lại vào đối tượng tợ
tướng, nhưng thời gian suy xét chỉ nên kéo dài khoảng 2 hay 3 giây thôi, nếu
lâu, tợ tướng sẽ mất, vậy thời gian suy sét chỉ nên mất vài giây mà thôi. Sau
khi suy xét nếu quý vị tập trung trở lại vào đối tượng tợ tướng của hơi thở, an
chỉ định có thể sinh khởi trở lại. Đối với một số thiền sinh mới bắt đầu, an
chỉ định này chỉ là định Sơ thiền. Quý vị nên trú trong định này cho được 5 hay
10 phút. Xuất khỏi định ấy, khi đang trực tri các thiền chi, lúc ấy quý vị sẽ
thấy Tầm và Tứ là thô tháo; Hỷ, Lạc, Nhất tâm là an tịnh hơn. Lúc ấy với ý định
muốn loại bỏ các thiền chi còn thô tháo và chỉ giữ lại các thiền chi an tịnh
hơn, là các thiền chi của Nhị thiền, quý vị tập trung trở lại vào đối tượng Tợ
tướng của hơi thở. Lúc tập trung trở lại vào tợ tướng của hơi thở, không lâu
sau, an chỉ định sẽ sinh khởi, lúc ấy quý vị sẽ hiểu Tầm, sự áp tâm lên đối
tượng và Tứ, sự trụ tâm trên đối tượng tợ tướng của hơi thở biến mất, chỉ còn
lại 3 thiền chi : Hỷ, Lạc và Nhất tâm. Lúc ấy, quý vị có thể nói quý vị đã đạt
đến Nhị thiền.
Nếu đạt đến Nhị thiền, quý vị cũng nên duy trì Nhị thiền trong một thời
gian dài. Với người mới bắt đầu, nếu muốn lên Nhị thiền, họ nên thiết lập lại
Sơ thiền cho được 1 giờ. Xuất khỏi Sơ thiền, họ nên suy xét 2 khuyết điểm và 1
ưu điểm , sau đó mới nên cố gắng đạt đến Nhị thiền. Nếu quý vị đã đạt được Nhị
thiền, thời thiền tọa kế tiếp, nếu muốn lên Nhị thiền, quý vị nên thực hành có
hệ thống: trước tiên, quý vị phải tái thiết lập Sơ thiền, lúc ấy trú trong Sơ
thiền cho được 4 hay 5 phút. Xuất khỏi Sơ thiền, quý vị nên đi lên Nhị thiền,
trú trong Nhị thiền cho được hơn 1 giờ hay 2 giờ… Rồi quý vị cũng nên cố gắng
thực hành 5 Pháp thuần thục của Nhị thiền theo cách tương tự đã đề cập với Sơ
thiền. Rồi nếu muốn lên Tam thiền, quý vị nên gắng hành sao? Quý vị nên vào Sơ
thiền trong vài phút, 2 hay 3 phút, rồi vào Nhị thiền cho được gần 1 tiếng.
Xuất khỏi Nhị thiền, quý vị nên suy xét 2 khuyết điểm và 1 ưu điểm . 2 khuyết
điểm đó là:
Quý vị nên suy xét: “Nhị thiền này gần với kẻ địch của Sơ thiền, đặc
biệt là Tầm và Tứ. Vì Tầm và Tứ còn thô tháo. Do bởi tính thô tháo này, Sơ
thiền rất dễ thất thối. Tương tự vậy, Nhị thiền này cũng gần với kẻ địch Tầm và
Tứ. Đây là một bất lợi.
Thêm nữa, xin hãy suy xét về Hỷ, Hỷ còn thô tháo, khi Hỷ mạnh lúc ấy tâm
không thể vững trụ. Do bở Hỷ này mà cảm xúc sinh khởi, do còn cảm xúc, định
không thể đủ sâu. Thế là Hỷ còn thô tháo. Do tính thô tháo này, Nhị thiền cũng
có thể dễ dàng thối thất. Đây là một khuyết điểm khác nữa.
Về một ưu điểm : xin hãy suy xét Lạc và Nhất Tâm: Lạc và Nhất tâm tĩnh
lặng hơn, hai thiền chi này là hai thiền chi của Tam thiền. Sau khi suy xét như
thế, quý vị liền tập trung trở lại vào tợ tướng của hơi thở, không lâu sau an
chỉ định sẽ sinh khởi. An chỉ định này với người mới bắt đầu chỉ có thể là định
Nhị thiền thôi. Quý vị nên trú trong Nhị thiền này khoảng 5 hay 10 phút. Xuất
khỏi Nhị thiền, quý vị nên ôn tầm các thiền chi của Nhị thiền, sẽ thấy Hỷ còn
thô tháo và Lạc và Nhất tâm tĩnh lặng hơn. Lúc ấy để loại bỏ thiền chi thô tháo
Hỷ và giữ lại các tịnh thiền chi Lạc và Nhất tâm, quý vị nên tập trung trở lại
vào Tợ tướng của hơi thở. Khi quý vị tập trung vào Tợ tướng trở lại, không bao
lâu an chỉ định sẽ xuất hiện, an chỉ định này có thể là Tam thiền. Nếu đó là
Tam thiền, quý vị sẽ dễ dàng hiểu được là Hỷ biến mất và chỉ còn lại Lạc và
Nhất tâm, lúc ấy quý vị có thể nói rằng đã đạt đến Tam thiền. Nếu quý vị đã đạt
đến Tam thiền, thời thiền tọa kế tiếp quý vị nên thực hành một cách có hệ
thống: trước tiên quý vị nên thiết lập lại Sơ thiền trong vài phút, 2 hay 3
phút và nhị thiền 2 hay 3 phút thôi, rồi quý vị nên đạt đến Tam thiền theo cách
tương tự. Quý vị nên thiết lập Tam thiền cho được 2 hay 3 giờ và thực hành lại
5 Pháp thuần thục. Nếu đã thỏa mãn, nếu muốn lên Tam thiền, quý vị nên nổ lực
như thế nào? Quý vị nên thiết lập lại Sơ thiền trong vài phút, 2 hay 3 phút gì
đấy, Nhị thiền trong 2 hay 3 phút gì đấy, Tam thiền trong gần 1 giờ. Xuất khỏi
Tam thiền, quý vị nên suy xét 2 khuyết điểm và 1 ưu điểm . Hai khuyết điểm là:
Quý vị nên suy xét về Tam thiền: Tam thiền này gần với kẻ địch Hỷ hay
Nhị thiền vì quý vị rất dễ thối thất xuống Nhị thiền.
Còn một khuyết điểm nữa, xin hãy suy xét các thiền chi: Lạc và Nhất tâm,
hãy suy xét Lạc là còn thô hơn, tại sao? Khi đang ghi nhận một đối tượng, nếu
tâm còn cảm thấy an lạc (Lạc), thì tâm này còn chưa tịch tịnh. Bởi Lạc này mà
bậc thiền của quý vị có thể dễ dàng bị thối lui xuống Nhị thiền. Nếu một người
có sự an lạc mạnh, tâm không thể tịnh tĩnh được, Lạc còn thô là vì vậy. Vì tính
thô này mà quý vị có thể dễ dàng rớt khỏi bậc thiền. Đây là một bất lợi.
Tiếp theo quý vị nên suy xét về một ưu điểm : một ưu điểm là khi suy xét
Xả và Nhất tâm. Xả là tâm trung dung hay cảm thọ xả và Nhất tâm là sự hợp nhất,
hai thiền chi này rất an tĩnh. Hai thiền chi này là hai thiền chi của Tứ thiền.
Sau khi suy xét như thế, quý vị nên tập trung trở lại vào Tợ tướng của
hơi thở. Không lâu sau, an chỉ định sẽ khởi sinh trở lại. Quý vị nên trú trong
an chỉ định đó cho được 5 hay 10 phút. An chỉ định này chỉ có thể là định Tam
thiền. Xuất khỏi Tam thiền, quý vị nên ôn tầm các thiền chi, lúc ấy quý vị sẽ
thấy Lạc còn thô, Xả và Nhất tâm, hai thiền chi này tịnh tĩnh hơn. Lúc ấy với ý
định loại bỏ thiền chi thô và giữ lại hai thiền chi tịnh tĩnh hơn; Xả và Nhất
tâm là hai thiền chi của Tứ thiền. Quý vị nên tập trung trở lại vào tợ tướng
của hơi thở. Khi tập trung vào Tợ tướng trở lại, không lâu sau an chỉ định sẽ
xuất hiện, an chỉ định này có thể là định Tứ thiền. Lúc ấy quý vị sẽ hiểu cảm
giác an lạc đã biến mất, chỉ còn lại Xả và Nhất tâm, hai thiền chi có mặt trong
Tứ thiền. Nếu Tứ thiền của quý vị là chắc thật như vậy, lúc ấy hơi thở của quý
vị sẽ dừng lại hoàn tòan, không còn việc thở nữa.
Vậy tổng cộng có 4 bậc thiền : Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.
Tứ thiền này có thể sản sinh ra ánh sáng rất mạnh, Sơ thiền cũng có thể sản
sinh ra ánh sáng, nhưng không sáng bằng. Tứ thiền, ánh sáng rất sáng và rực rỡ,
ví dụ như với Đại Đức Anuruddha, Tứ thiền có thể sản sinh ra ánh sáng rực rỡ
chiếu đến 10 ngàn thế giới hay 1 ngàn thế giới, rất mạnh đúng không… Vì vậy ánh
sáng Tứ thiền là rất mạnh. Với một số hành giả, ánh sáng trí tuệ này có thể soi
đến 2 hoặc 3 dặm, 4 hoặc 5 dặm hay 10 dặm, v.v.. Với Tứ thiền, ánh sáng này rất
sáng và mạnh. Với sự trợ giúp của ánh sáng này, nếu quý vị trực tri sắc pháp,
danh pháp và các nhân của chúng, quý vị có thể dễ dàng liễu tri được chúng. Sắc
pháp và danh pháp là Sự thật tối thượng về Khổ, hay Khổ đế Pháp; nhân của chúng
là Khổ tập Pháp, Sự Thật tối thượng về nguyên nhân của Khổ. Hai Sự thật tối
thượng này được gọi là các Hành, Saṅkhāra. Các Hành này là đối tượng của Thiền Minh
Sát, quý vị phải quán sát chúng là vô thường, khổ và vô ngã một cách có hệ
thống, lúc ấy quý vị có thể nói, quý vị đang thực hành Vipassanā một cách hoàn
hảo. Để liễu tri được sắc pháp, danh pháp và các nhân của chúng là vô thường,
khổ và vô ngã, ánh sáng trí tuệ mạnh là cần thiết. Tứ thiền có thể sản sinh ra
ánh sáng trí tuệ rất sáng và mạnh.
Nhưng có một số hành giả còn muốn thực hành các Biến xứ (Kasiṇa) và Bát thiền. Nếu muốn thực
hành các biến xứ và Bát thiền, lúc đó, quý vị nên trực tri 32 thân phần như là:
tóc, lông, móng, răng,v.v.. một cách rõ ràng. Lúc này nếu muốn thực hành các
biến xứ, họ có thể hành 4 biến xứ màu, ví dụ như họ có thể lấy “tóc” làm đối
tượng đề hành biến xứ “đen” Nīla. Biến xứ Nīla họ dịch có nhiều cách: vài người
dịch là biến xứ nâu, số khác thì dịch là biến xứ đen, có số nữa dịch là biến xứ
xanh đen. Cái nào đúng tôi không rõ nhưng màu tóc, có loại màu tóc gì ở đây?
(cười). Màu tóc của người Á châu, đặc biệt là màu tóc của người Ấn độ. Lấy màu
tóc làm đối tượng, quý vị có thể thực hành biến xứ Đen, lấy màu nước tiểu làm
đối tượng, có thể thực hành biến xứ Vàng, lấu màu máu làm đối tượng, có thể
thực hành biến xứ Đỏ, lấy khung xương làm đối tượng, có thể thực hành biến xứ
Trắng. Nếu quý vị có thể trực tri 32 thân phần cả về bên trong lẫn bên ngoài,
màu tóc bên ngoài cũng có thể làm đối tượng để quý vị có thể thực hành biến xứ
màu, v.v.. Vậy quý vị có thể thực hành biến xứ màu từ thân phần bên trong hay
bên ngoài. Nếu có thể thực hành các biến xứ màu, quý vị cũng có thể thực hành
các biến xứ còn lại.
Nếu có thể thực hành 10 biến xứ đạt đến Tứ thiền, quý vị có thể đi lên
các thiền vô sắc. Nếu quý vị thực hành Bát thiền, Tám loại thiền, thiền này rất
mạnh và thâm hậu, chúng có thể sinh ra ánh sáng cực sáng và cực mạnh. Vì thế,
nếu quý vị thực hành Tứ Vô Lượng Tâm, Từ, Bi, Hỷ, Xả, rất dễ dàng cho quý vị.
Hôm nay tôi sẽ dừng bài Pháp tại đây, quý vị có thể thảo luận với các
câu hỏi.
Hỏi: Con nên nhắm mắt hay mở mắt một chút, cách
nào tốt hơn. Dù các gì, thì mắt nên hướng về đâu, hướng lên hay xuống dưới, gần
hay xa?
Đáp: Nếu có thể quên con mắt đi như thế này, thì
tốt hơn (cười), vì mắt khép lại là tốt hơn. Còn lúc quý vị nhắm mắt, đây là mặt
đất, mắt lúc này nên hướng lên hay xuống? Có lẽ nếu quý vị không thể quên đôi
mắt đi thì nó là một vấn đề đấy. Còn vấn đề nữa khi nimitta xuất hiện nếu quý
vị có thể tập trung trên nimitta, nimitta sẽ trở nên sáng hơn và ánh sáng trí
tuệ bao bọc khắp thân sẽ tỏa sáng đặc biệt chỉ khi quý vị có thể tập trung vào
nimitta tợ tướng này với mắt nhắm. Lúc nimitta sáng bừng lên, ánh sáng này có
thể đập vào mắt làm nước mắt chảy ra, lúc ấy định của quý vị sẽ giảm. Đây là
vấn đề. Lại nữa, khi tập trung vào nimitta bằng mắt mở, nếu quý vị thực hành
nhiều ngày, nhiều tháng ở đây sẽ xuất hiện nhiều căng thẳng, mắt của quý vị sẽ
bị đau, đây lại thêm một vấn đề nữa. Bởi cớ ấy, nếu quý vị có thể quên đi đôi
mắt thì tốt hơn, mở một tí hay nhắm thì tốt hơn? Nhắm mắt thì tốt hơn, mở một
tí cũng không tốt đâu. Còn khi nhắm mắt, quý vị nên hướng mắt lên hay xuống?
(cười). Ví dụ đây là mắt, đây cũng không tốt. Quý vị nên quên hết mọi thứ về
con mắt, nếu không, quý vị sẽ gặp trở ngại đấy.
Hỏi: Trong khi tập trung vào đối tượng hơi thở,
các cảm giác mạnh như bực dọc, có lỗi, ân hận, phấn khích hay vui sướng liên
tục khởi lên. Những cảm giác này quá chi phối tâm con hơn cả các tư duy khái
niệm và còn mạnh hơn hẳn. Con nên làm sao trong trường hợp này ạ?
Đáp: Tất cả các bất thiện pháp, nhân gần của chúng
là Phi lý tác ý, tức là sự chú ý khuyết điểm(Ayoniso Manasikāra) và tất cả các
thiện pháp có nhân gần là như lý tác ý, tức là sự chú ý khôn khéo (Yoniso
Manasikāra). Trong khi đang tập trung vào đối tượng hơi thở, nếu có các cảm
giác mạnh như nóng giận, có lỗi, nuối tiếc hay phấn khích, v.v..xuất hiện,
chúng là các pháp bất thiện. Nóng giận là pháp bất thiện; hối hận, hối tiếc
cũng là sự bất hạnh, là bất thiện pháp, phấn khích cũng là một bất thiện pháp,
gần như là tâm trạo cử. Vậy đấy là bất thiện pháp, nhân gần của chúng là phi lý
tác ý. Đây, lúc nào mà quý vị chẳng luôn thở, có phải lúc nào quý vị cũng nổi
giận? Quý vị nên xem xét điều này thật kỹ lưỡng: trong khi đang thực hành niệm
hơi thở, khi đang tập trung trên đối tượng hơi thở của bạn, lúc ấy sân giận lại
khởi lên, điều này là chỉ do phi lý tác ý, chúng ta gọi là chú ý bất lợi,
Ayoniso Manasikāra.
Phi lý tác ý là gì? Tất cả các hành là vô thường, nhưng quý vị có lẽ chú
ý tới chúng như là thường hằng, bất biến; tất cả các hành là khổ, nhưng quý vị
có lẽ chú ý tới chúng như là lạc; tất cả các hành là vô ngã, nhưng quý vị có lẽ
chú ý đến chúng như là tự ngã. Đặc biệt, tự ngã, có 2 loại tự ngã, có thể quý
vị chấp nhận có linh hồn hay tự ngã. Hay quý vị có thể cho rằng “đây là tôi”,
“đây là anh ta”, “đây là bà ta” hay “đây là cha”, “đây là mẹ”, v.v.. Nếu quý vị
chú ý theo cách này, đây được gọi là phi lý tác ý, tức chú ý bất lợi. Do phi lý
tác ý nên quý vị giận dữ. Còn đây do hơi thở (cười), khi quý vị tập trung vào
đối tượng hơi thở, sân giận không thể tự động khởi sinh, chỉ là do phi lý tác ý
này mà thôi. Tương tự vậy, với lạc, hạnh phúc, khi quý vị đang tập trung vào
đối tượng hơi thở, thông thường khi định phát triển, lúc ấy Lạc sẽ sinh khởi,
nhưng không phải tự động; nếu lạc tự động sinh khởi ấy chỉ là do sự chú ý của
quý vị mà thôi.Vậy hãy loại bỏ phi lý tác ý và thay thế nó bằng như lý tác ý.
Như lý tác ý là gì? Chú ý có lợi ở đây là quý vị nên tập trung vào đối tượng
hơi thở của mình như là hơi thở mà thôi, rồi thì vấn đề này sẽ biến mất.
Hỏi: Có những ngày việc thực hành Niệm hơi thở rất
tốt, tâm tập trung được trên đối tượng hơi thở và vài dấu hiệu định xuất hiện,
nhưng có những ngày chẳng có diễn tiến gì tốt cả có lẽ là do thời tiết xấu, có
ngày còn do vấn đề nào đó, v.v.. Chúng ta có thể làm sao vào những ngày việc
hành thiền dường như chán chường và tâm rất yếu? Chúng ta phải làm sao để duy
trì động lực tiếp tục thực hành? Những điều chỉnh nào cần thực hiện để cải
thiện việc hành thiền ạ?
Đáp: Thực hành liên tục là rất cần thiết (cười).
Xin hãy đừng nói chuyện, đừng nghĩ ngợi. Chúng là những hiện tượng rất nguy
hiểm. Nếu nói chuyện nhiều, định của quý vị sẽ thối giảm. Còn nếu nghĩ ngợi
nhiều, đặc biệt là nếu quý vị nghiên cứu, trạch pháp quá nhiều, định không thể
phát triển. Nếu quý vị muốn chứng thiền, xin không nói chuyện, không suy nghĩ,
không nghiên cứu hay trạch pháp. Khi đang thực hành thiền Quán, Vipassanā,
trạch pháp là rất hữu ích, rất tốt. Nhưng khi hành thiền Chỉ, Samatha, trạch
pháp nhiều là không tốt, vì sẽ làm định không thể phát triển. Có 7 giác chi (là
các yếu tố hổ trợ giác ngộ):
Niệm giác chi
Trạch pháp giác chi
Tinh tấn giác chi
Hỷ giác chi
Tịnh giác chi
Định giác chi
Xả giác chi
Tổng cộng có 7 Giác chi. Trong số Thất giác chi này, Trạch pháp, Tinh
tấn, Hỷ là một nhóm; Tịnh, Định, Xả là một nhóm. Niệm ở giữa, tham dự vào cả 2
nhóm. Nếu Trạch pháp, Tấn, Hỷ là mạnh, nhóm Định sẽ yếu đi. Nhóm Định là Tịnh,
Định, Xả, 3 giác chi này đuợc gọi là nhóm Định. Trạch pháp, Tấn, Hỷ được gọi là
nhóm Trạch pháp, có 2 nhóm. Khi một nhóm trở nên mạnh và rất trội, thì nhóm kia
sẽ yếu đi. Vậy nên khi quý vị đang thực hành thiền Chỉ, Samatha, quý vị nên cố
gắng quân bình 2 nhóm này. Khi nhóm Trạch pháp mạnh, lúc ấy nhóm Định không thể
phát triển. Khi thực hành thiền Chỉ Samatha, nếu nhóm Định của quý vị trở nên
vượt trội, điều này cũng tốt. Nhưng nếu đang hành thiền Chỉ, nếu quý vị có thể
quân bình 2 nhóm, thì tốt hơn, không có vấn đề gì. Vậy nên khi thực hành niệm
hơi thở, quý vị nên làm cho 2 nhóm quân bình, nhưng quý vị có lẽ chưa nhớ 7
Giác chi này. Nếu quý vị muốn nhớ, vậy quý vị nên học chúng thì hơn.
Hỏi: Đối với người có kinh nghiệm chứng thiền,
trong lúc trú thiền, cô ấy có thể nghe được mình hỏi Đức Phật hay Đức Bồ Tát về
10 lời giải và điều răn. Nếu một người có thiền trú vững chắc, liệu người ấy
nhờ lực thiền ấy có khả năng sống thọ hơn và mạnh khỏe hơn không ạ?
Đáp: (Cười) Theo truyền thống Theravàda của chúng
tôi, điều này là không thể. Bậc thiền có nghĩa là định trên đề mục thiền của
quý vị mà thôi, ví dụ như khi quý vị đang tập trung vào tợ tướng của hơi thở,
nếu quý vị có thể tập trung vào tợ tướng, lúc ấy quý vị có thể chứng thiền, đạt
đến bậc thiền. Nhưng khi nếu quý vị đang hỏi Đức Phật (cười), lúc này không
phải là bậc thiền, đây chỉ là sự tưởng tượng của quý vị thôi. Quý vị thấy Đức
Phật ở đâu? Quý vị thấy Đức Phật ở đâu nào? Đức Phật, theo truyền thống
Theravàda của chúng tôi, đã nhập Đại Niết Bàn rồi. Đại Niết Bàn nghĩa là tịch
diệt. Tịch diệt là gì? Theo như một bài Kinh, Đức Phật giải thích sự tịch diệt
bằng một ví dụ: có một ngọn đèn, vẫn còn dầu và tim. Nếu tim cạn và dầu cũng
cạn, lửa sẽ tắt. Khi lửa tắt, Lửa này đã đi đâu? Lửa này đã có thể đi đâu kia
chứ? Chúng ta không thể nói lửa này đã đi đâu. Chúng ta có thể nói: lửa đã tắt
hoàn toàn do sự cạn kiệt của tim và dầu ngọn đèn.
Tương tự vậy, Đức Phật đã Đại Bát Niết bàn là do sự chấm dứt hoàn toàn
của các nhân, ngủ uẩn cũng chấm dứt hoàn toàn không còn dư sót. A-la-hán đạo
của Đức Phật diệt sạch mọi phiền não không còn dư sót. Đặc biệt, trong số các
phiền não, Vô minh, Ái (tham đắm đời sống mới) và Thủ (dính mắc vào đời sống
mới) là những phiền não nổi bật hơn cả. Đạo lộ A-la-hán này diệt sạch mọi phiền
lụy. Do diệt sạch mọi phiền lụy, nghiệp nào mà họ đã tích lũy trước khi trở
thành A-la-hán, những nghiệp này không có hiệu lực để tạo tác đời sống mới. Do
vậy, chúng ta có thể nói rằng vị A-la-hán này diệt sạch Vô minh, Ái, Thủ, Hành
và Nghiệp. Do đã tận diệt hoàn toàn các nhân này, Ngũ uẩn sau khi tịch diệt
Niết Bàn, không còn tái sinh, sẽ không còn một đời sống mới, các uẩn mới. Vào
giai đoạn sau khi Đại bát niết bàn, sau Đại Bát Niết bàn, sẽ không còn uẩn mới
nào nữa, không còn một đời sống mới nào nữa. Nghĩa là sau khi Đại Bát niết bàn,
Đức Phật sẽ không còn, Ngài tịch diệt còn đâu. Do vậy, làm sao quý vị có thể
thưa chuyện với Đức Phật được? Điều này là không thể có. Đây chỉ là sự tưởng
tượng, sự tưởng tượng vô nghĩa.
Câu hỏi thứ hai là nếu một người có thiền chứng thâm sâu, liệu họ có
sống lâu hơn được chăng?
Đời sống này phụ thuộc vào nghiệp của vị ấy mà thôi, ví dụ như vào thời
Đức Phật, có những vị A-la-hán, sau khi chứng ngộ A-la-hán, họ qua đời, họ tịch
diệt, Niết Bàn, như Ngài Bahidda Daruciriya. Ngài là một người nhanh chóng
chứng ngộ A-la-hán trong thời Đức Phật của chúng ta. Nhưng ngay khi chứng ngộ
A-la-hán, Ngài nhập diệt Niết bàn ngay. Vậy làm sao chúng ta có thể nói được
rằng một người có thiền chứng có thể sống lâu? Điều này là không thể, nhưng có
thể nếu vị ấy có thể duy trì định bậc thiền cho đến lúc chết, sau đó vị ấy có
thể tái sanh lên một trong các cõi Phạm thiên tùy vào bậc thiền của mình. Lúc ở
cõi Phạm thiên, vị ấy có thể sống lâu, điều này là có thể. Vậy nếu quý vị muốn
có tuổi thọ lâu dài, quý vị nên duy trì định bậc thiền của quý vị cho đến lúc
chết không để thối thất.
Hỏi: Khác nhau giữa cận định và Sơ thiền là gì ạ?
Và làm cách nào để một hành giả từ cận định tiến lên Sơ thiền? Khi một hành giả
xuất khỏi thiền, liệu 5 triền cái có hoàn toàn vắng mặt không ạ? Nếu không,
chúng có thể bị đè nén đến mức độ nào ạ?
Đáp: Giữa cận định và bậc thiền, có sự khác nhau.
Sự khác nhau? Cận định cũng lấy, ví du với thiền Niệm Hơi thở, Tợ tướng của hơi
thở làm đối tượng, tương tự vậy, Sơ thiền cũng lấy tợ tướng của hơi thở làm đối
tượng, đối tượng là giống nhau. Nhưng ở giai đoạn cận định, 5 thiền chi chưa đủ
mạnh để có thể duy trì định của vị ấy trong một thời gian dài. Nhưng khi vị ấy
có thể đạt đến sơ thiền, lúc ấy năm thiền chi rất mạnh và vững chắc thì vị ấy
mới có thể duy trì định lâu dài. Ví dụ, một đứa trẻ, khi còn nhỏ, nó không thể
đứng vững; với sự giúp sức của cha mẹ, nó có thể đứng được nhưng có thể dễ ngã
xuống đất. Cùng cách ấy, ở giai đoạn cận định, các thiền chi không đủ mạnh, do
đó vị ấy có thể dễ dàng rơi lại vào Bhavanga, hữu phần. Khi rơi vào Hữu phần,
rất nhiều thiền sinh nói rằng lúc ấy họ không còn biết gì nữa, tâm đi khỏi đối
tượng, nhưng đối tượng gì thì vị ấy không thể nói chính xác được, nếu thường
xuyên, vị ấy không thể duy trì định lâu được. Nhưng khi đạt đến bậc thiền, vị
ấy có thể duy trì định của bậc thiền lâu dài, do 5 thiền chi lúc này rất vững
và mạnh, vững mạnh có nghĩa giống như có thể đứng lâu được.
Còn khi một hành giả xuất khỏi thiền, 5 triền cái có vắng mặt không?
Điều này là không thể. Trong thời của Đức Phật, có những hành giả đạt đến các
bậc thiền nhưng khi họ xuất khỏi bậc thiền, các triền cái xuất hiện trở lại vì
phi lý tác ý thắng thế, một ví dụ là Đại Đức Đề-bà-đạt-đa, khi thực hành thiền
Chỉ Samatha trong 3 tháng kiết hạ, vị ấy có thể đạt đến Bát thiền và Ngũ Thông
Thế Gian. Nhưng vị ấy quá tham vọng muốn trở thành Đức Phật, muốn sở hữu nhiều
vật, muốn đạt được nhiều thứ. Do lòng tham này, thiền của vị ấy bị thối thất và
vị ấy không thể thiết lập được định bậc thiền của mình. Vậy do phi lý tác ý mà
các triền cái sinh khởi sau khi xuất khỏi thiền. Nhưng nếu vị ấy như lý tác ý
liên tục nhiều năm, thì điều này không thể xảy ra, các triền cái sẽ không sinh
khởi, một điển hình là Ngài Mahanàga, Ngài đã hành thiền Chỉ và thiền Quán trong
60 năm. Trong vòng 60 năm này, chưa một triền cái nào khởi sinh trong tâm Ngài,
do thiền Chỉ Samatha và thiền Quán Vipassanā có thể đè nén các triền cái này
trong 60 năm là nhờ Ngài luôn như lý tác ý. Còn Đại Đức Đề-bà-đạt-đa đã phi lý
tác ý như trên, vì thế vị ấy không thể duy trì định bậc thiền của mình được.
OK?
Hỏi: Khi thực hành Niệm hơi thở, tại sao phải giữ
2 nhóm Thất giác chi quân bình ạ? Liệu chỉ tập trung vào nhóm Định, như Tịnh,
Định và Xả để sinh Định được không ạ? Còn nhóm kia như Tấn, và Hỷ, khi ta không
suy nghĩ là chúng ta không trạch pháp ạ? Và khi chỉ tập trung vào hơi thở, nó
có cố tình tạo ra sự mất quân bình không ạ? Sự mất quân bình này trực tiếp là
do sự tiến hành theo quy trình hành thiền phải không ạ?
Đáp: Có lẽ nếu quý vị có thể tập trung vào tợ
tướng của hơi thở một cách trọn vẹn thì không cần thiết phải cố gắng làm cho 2
nhóm này quân bình, nhưng đối với một số hành giả, họ nghiên cứu, trạch pháp
quá nhiều: “Cái gì đây?” “Cái gì đây?” “Cái gì đây?”, “Tôi muốn nimitta này dài
hơn kia”, “ Tôi chỉ muốn nghiên cứu,”, “Tôi không muốn đạt đến thiền”, “Mong
cho nimitta của tôi dài, OK, nó trở nên dài rồi, không có vấn đề gi!”, “mong
cho nimitta của tôi là tròn! OK, nó tròn lên rồi!”. Cứ vậy vị ấy chỉ điều tra
hay trạch pháp. Nếu làm vậy, quý vị không thể chứng thiền được. Nhưng nếu quý
vị chỉ tập trung vào nimitta của mình thôi mà không điều tra hay thắc mắc, chỉ
tập trung vào đối tượng rồi định sẽ dần sâu hơn, lúc đó quý vị có thể nói Thất
Giác chi của quý vị là cân bằng, lúc này không cần thiết phải cố gắng làm cho
Thất giác chi hay 2 nhóm quân bình.
Hỏi: Cảm xúc gì có liên hệ với tứ đại ạ?
Đáp: Tôi không hiểu câu hỏi này (cười).
Hỏi: Con xin lỗi con phải hỏi câu này ngay mà
không kịp viết trên giấy vì nó quan trọng về Thất giác chi và xin lỗi con đã
phá lệ. Trong Thanh Tịnh Đạo và Kinh Tứ Niệm Xứ, vì Ngài nói có lúc khi thực
hành Niệm hơi thở, Ngài không cần quân bình Thất giác chi. Nhưng trong trường
hợp bài kinh…… và bài Kinh Bojjhaṅga Kosalla và bài Kinh….. (đoạn này người nghe chép
nghe không rõ tên các bài kinh này), theo trong này Ngài phải quân bình chúng,
vậy xin Ngài giải thích cho chúng con được không ạ?
Đáp: Có lẽ các bài kinh này khá dài. Chúng là
những bài kinh dài, sao tôi giải thích cho kịp.
Hỏi: Không cần ngay bây giờ ạ, lúc trình pháp hay
lúc nào ngài thấy tiện ấy ạ.
Đáp: Nói tóm lại, có 7 giác chi, nếu quý vị có thể
quân bình 7 giác chi này là đủ rồi. Nhưng khi hành thiền chỉ Samatha, nếu nhóm
Định giác chi trở nên trội, hơi vượt trội, nó cũng OK, không vấn đề gì, quý vị
vẫn có thể chứng thiền…