Mục tiêu của người Phật tử là chứng ngộ hay đạt đến Niết Bàn. Niết Bàn
là trạng thái hoàn toàn vắng lặng mọi khổ đau. Cuộc sống chúng ta là khổ, sinh
là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sống chung với điều mình không
thích là khổ, xa lìa điều mình thích là khổ, mong điều gì mà không đạt được là
khổ, tóm lại chấp thủ thân ngủ uẩn này là khổ.
Cuộc sống chúng ta đầy đau khổ. Để thoát khổ, ta cần phải cố gắng thực
hành để đạt đến Niết Bàn. Muốn đạt đến NB, trước hết quý vị nên cố gắng hiểu
Bốn Sự Thật Tối Thượng, hay còn gọi là Tứ Diệu Đế. Tại sao? Nếu quý vị muốn đạt
đến NB, cần phải tận trừ tất cả các lậu hoặc, bao gồm dính mắc tái sanh nào.
Nếu còn dính mắc vào đời sống mới, quý vị không thể thoát khỏi vòng sanh tử.
Nếu quý vị muốn thoát khỏi tái sanh, luân hồi, nên nổ lực để tận diệt tất cả
mọi phiền não, bao gồm cả việc dính mắc vào đời sống mới. Tất cả những gì quý
vị nên tận diệt là những phiền não.
Có bài kinh “ÀSAVAKKHAYA SUTTA”, “Đoạn Trừ Lậu Hoặc”:
Jānatohaṁ, bhikkhave,
passato āsavānaṁ khayaṁ vadāmi, no ajānato apassato.
Kiñca, bhikkhave, jānato, passato āsavānaṁ khayo hoti? ‘idaṁ dukkhan’ti, bhikkhave, jānato passato āsavānaṁ khayo hoti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti jānato passato
āsavānaṁ khayo hoti,
‘ayaṁ
dukkhanirodho’ti jānato passato āsavānaṁ khayo hoti. ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti jānato passato āsavānaṁ khayo hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato āsavanaṁ khayo hoti
“Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo.”
Đây là Bài kinh “Đoạn Trừ Lậu Hoặc” trong Tương Ưng Sự Thật,
Saccasamyutta. Nghĩa là gì ?
“ Này chư Tỳ-khưu, Ta nói rằng sự đoạn trừ các lậu hoặc là cho người
biết và thấy, không phải cho người không biết và không thấy. Cho người biết GÌ
và thấy GÌ khiến các lậu hoặc được đoạn trừ?
Cho những ai biết và thấy đây là sự thật tối thượng về Khổ
(Dukkhasacca); Những ai biết và thấy đây là sự thật về nguyên nhân của khổ
(Samudayasacca); những ai biết và thấy đây là sự thật tối thượng về sự chấm dứt
khổ (Nirodhasacca); Những ai biết và thấy đây là sự thật tối thượng về con
đường đưa đến diệt khổ (Maggasacca). Chỉ những ai như thị biết vậy và thấy vậy,
các lậu hoặc mới được đoạn trừ.
Vì vậy, cần phải nổ lực để biết rõ, thấy rõ đây là Sự thật tối thượng về
Khổ; cần phải nổ lực để biết rõ, thấy rõ đây là Sự thật tối thượng về nguồn gốc
của Khổ (Khổ tập); cần phải nổ lực để thấy rõ, biết rõ đây là Sự thật tối
thượng về Khổ diệt; cần phải nổ lực để biết rõ, thấy rõ đây là Sư thật tối
thượng về Con đường đưa đến Khổ Diệt.”
Kinh Đoạn Trừ Các Lậu Hoặc – Tương Ưng Sự Thật.
Theo Bài kinh này, nếu quý vị muốn đoạn trừ các lậu hoặc, bao gồm sự
dính mắc tái sinh ở bất kỳ cảnh giới nào, đời sống mới nào, quý vị cần cố gắng
giác tri Tứ Diệu Đế, tức Bốn Sự thật tối thượng.
Nếu quý vị muốn giác tri Tứ Diệu Đế, Bốn Sự thật tối thượng, quý vị nên
cố gắng hành như thế nào?
Có một Bài kinh khác tên là “Samàdhi Sutta”-“Chánh Định” trong Tương Ưng
Bộ Kinh.
“Samādhiṁ Bhikkhave
bhāvetha. Samāhito bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṁ pajānāti. Kiñca yathābhūtaṁ pajānāti? ‘idaṁ dukkhanti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dhukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dhukkhanirodhagāminì paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Samādhiṁ bhikkhave, bhāvetha. Samāhiti
bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṁ pajānāti”.
Nghĩa là gì?
“Này chư Tỳ-khưu, hãy phát triển định. Một vị Tỳ-kheo có định, như thị
giác tri các Pháp. Gì là Pháp vị ấy như thị giác tri?
Vị ấy như thị giác tri đây là Khổ đế (sự thật tối thượng về Khổ)- Dukkha
Sacca. Như thị giác tri đây là Khổ Tập (sự thật tối thượng về nguồn gốc của
Khổ)- Samudaya Sacca. Như thị giác tri đây là Khổ diệt (sự thật tối thượng về
sự chấm dứt Khổ)- Nirodha Sacca. Như thị giác tri đây là Đạo đế (sự thật tối
thượng về Con đường đưa đến chấm dứt Khổ)- Magga Sacca.
Vì vậy, này chư Tỳ-kheo, hãy phát triển định. Một vị tỳ-kheo có định, sẽ
như thị giác tri các Pháp.”
Bởi chính nguyên nhân này, nếu muốn giác tri Tứ Diệu Đế, quý vị cần nỗ
lực thực hành để phát triển định. Đây là con đường Thiền Định Samatha. Khi tiến
hành thiền định, thực hành giữ giới trong sạch là điều cần thiết. Với giới
trong sạch làm nền tảng, quý vị nên phát triển thiền định. Để phát triển định
tâm, có đến 40 đề mục, quý vị có thể chọn bất kỳ đề mục nào mình muốn. Đầu
tiên, chúng tôi thực sự hướng dẫn các thiền sinh thực hành niệm đề mục hơi thở
hoặc tứ đại. Quý vị nên chọn đề mục như ý quý vị muốn Nếu thành công với niềm
hơi thở hoặc tứ đại rồi, nếu muốn hành các đề mục thiền định khác như 10 Biến
xứ, Biến xứ Đất, v.v.. quý vị có thể hành rất dễ dàng. Vậy trước tiên, quý vị
nên nổ lực phát triển định theo phương pháp Niệm hơi thở Ānāpānasati (chỉnh
Pali), hoặc hành đề mục Tứ Đại.
Tối nay tôi muốn giới thiệu vắn tắt về Ānāpānasati, Niệm hơi thở.
Nếu quý vị muốn thực hành Ānāpāna, niệm hơi thở, quý vị nên tập trung
vào đối tượng hơi thở của quý vị, nó có thể xúc chạm quanh lỗ mũi hoặc đỉnh môi
trên.
Tại đây, quý vị chỉ việc chờ và thấy một mình hơi thở mà thôi. Nếu quý
vị có thể tập trung vào hơi thở, thì dễ rồi, không cần phải đếm hơi thở. Còn
nếu quý vị không thể tập trung tốt vào hơi thở, Chú giải khuyên ta nên thử đếm
hơi thở. Vậy xin hãy cố gắng tập trung trên đối tượng hơi thở của quý vị. Khi
quý vị tập trung vào đối tượng hơi thở, nếu quý vị thấy mình không tập trung
được tốt, theo đề nghị của Chú giải, quý vị hãy thử đếm hơi thở.
Khi hít vào, quý vị nên ghi nhận trong tâm “hít vào”, khi thở ra, quý vị
nên cố gắng ghi nhận trong tâm “thở ra”, hít vào-thở ra, đếm 1; hít vào-thở ra,
đếm 2; hít vào-thở ra, đếm 3, … cho đến 8. Rồi quay về đếm lại từ 1,… cho đến
8. Rồi tiếp tục đếm lại từ 1,…. cho đến 8…Giữa 5 và 10, quý vị có thể dừng ở
bất kỳ số nào, nên giữ cố định 1 số. Từ 1 đến 8, quý vị nên quyết định giữ cho
tâm không để phóng đi chỗ khác, nên cố gắng tập trung chỉ trên đối tượng hơi
thở mà thôi. Rồi từ từ tâm sẽ bắt đầu tập trung được trong vài giây hoặc trong
vài phút. Quý vị phải cố gắng, lặp đi lặp lại như vậy.
Khi đếm hơi thở, quý vị nên chú tâm vào hơi thở, chứ không phải con số.
Hãy cố gắng tập trung vào đối tượng hơi thở đang xúc chạm quanh lỗ mũi hay trên
đỉnh môi trên. Ngoài chỗ này ra, quý vị không nên theo hơi thở đi vào bên trong
lỗ mũi hay đi ra ngoài đỉnh môi. Quý vị chỉ nên tập trung vào hơi thở đang chạm
tại vị trí xúc chạm, hoặc đỉnh môi trên hay quanh lỗ mũi. Nếu hơi thở là rõ chỉ
1 bên lỗ mũi, thì chú ý hơi thở ở lỗ mũi bên đó, nhưng nó có thể thay đổi vào
mỗi thời ngồi. Nếu hơi thở rõ đều ở hai lỗ, tốt hơn nên chú ý hơi thở tại đỉnh
giữa môi trên. Nếu quý vị có thể chú tâm trên hơi thở được vài giây hay vài
phút, cứ tiếp tục trụ tâm trên hơi thở theo cách ấy. Nếu chú tâm được khoảng
gần 1 giờ hoặc 2 giờ, lúc ấy, quý vị có thể ngừng đếm hơi thở.
Nhưng khi đếm hơi thở, quý vị nên cố gắng biết rõ hơi thở. Nếu hơi thở
là dài, quý vị nên cố gắng biết rõ nó là hơi thở dài, nếu hơi thở ngắn, quý vị
nên cố gắng biết rõ nó là hơi thở ngắn. Không nên cố gắng niệm “dài, ngắn” có
chủ ý, không cần phải niệm: đây là hơi thở dài, đây là hơi thở ngắn, chỉ nên
ghi nhận hơi thở dù nó là dài hay là ngắn, chỉ nên đếm hơi thở : hít vào-thở ra
đếm 1, v.v.. Theo cách này, hãy cố gắng, từ từ quý vị sẽ có thể duy trì định
tâm đối tượng hơi thở được vài phút hoặc nữa tiếng, v.v.. Lúc đó nếu mỗi thời
ngồi đều trụ tâm trên hơi thở được khoảng hơn nữa giờ hay 1 giờ như thế trong 2
hay 3 ngày, quý vị có thể ngừng đếm hơi thở. Khi đang đi cũng vậy, cố gắng chú
tâm trên đối tượng hơi thở cùng cách ấy, không nên để ý các bước đi v.v.. Khi
đi, đứng, nằm, ngồi, trong mọi oai nghi, đều phải chú tâm đến hơi thở.
Hôm nay tôi muốn giới thiệu đến đây. Nếu quý vị muốn thực hành thiền Tứ
đại, giờ trình pháp ngày mai, xin hãy thảo luận với tôi.
Có lẽ mọi người muốn đặt câu hỏi, bất cứ điều gì, quý vị có thể hỏi.
Giọng nam : Thưa quý vị, nếu có câu hỏi gì, đây là cơ hội
tốt để hỏi
Giọng nam : Bạch Ngài, sau khi ngồi một chút, nếu thấy tê
chân, được chăng nếu con đổi tư thế để khỏi phải chống cự khó khăn với cơn đau?
Sayadaw : Được, nếu nó gây trở ngại cho việc định tâm
của bạn, bạn có thể đổi tư thế. Nếu nó không trở ngại đến sự chú tâm, hãy tiếp
tục chú tâm đến hơi thở thôi, đừng quan tâm đến cơn đau. Có khi không dễ, nó có
thể trở ngại cho việc chú tâm. Nếu cảm thọ đau quá rõ, có thể khiến cho bạn khó
tập trung, lúc đó hãy đổi tư thế.
Giọng nữ : Nếu khi tâm phân tán, rời khỏi hơi thở vô và
hơi thở ra, suy nghĩ xuất hiện quá nhiều, con nên làm sao?
Sayadaw: Để tránh phóng tâm, Chú giải khuyến khích đếm
hơi thở. Quý vị nên đếm để ghi nhận hơi thở, khi hít vào nên ghi nhận “hít
vào”, khi thở ra nên ghi nhận “thở ra”; “hít vào-thở ra”, cuối hơi thở ra đếm
1, “hít vào-thở ra” đếm 2, “hít vào-thở ra” đếm 3… cho đến 8. Theo cách như vậy
mà đếm, dần dần tâm sẽ bớt phóng đi khỏi hơi thở.
Giọng nam: Thưa Sayadaw, con biết thiền tọa rất quan
trọng. Nhưng trong việc thực hành hằng ngày như khi con đi, con ăn, cũng quan
trọng nên xin Sayadaw giải thích giúp cho cách có thể tập trung tâm?
Sayadaw: Có 4 loại sampajañña, Sampajañña họ dịch là “
hiểu biết rõ rāng”
Hiểu biết rõ ràng về lợi ích,
Hiểu biết rõ ràng về tính thích hợp (ngoài phạm vi hành thiền),
Tuệ quán thấu suốt hay hiểu biết rõ rāng về niệm xứ (Gocāra Sampajañña)
Tuệ quán thấu suốt hay Hiểu biết rõ ràng về danh-sắc.
Vậy có 4 loại Hiểu biết rõ rāng. Giờ đây quý vị chỉ đang hành Tuệ quán
sát thấu suốt hay Sự hiểu biết rõ rāng về niệm xứ, được gọi “Gocāra
Sampajañña”, đặc biệt được chú trọng trong thiền định. Khi quý vị hành thiền
định, quý vị nên chú trọng vào chỉ một đề mục thiền định của mình trong bất kỳ
tư thế nào của cơ thể. Hiện tại quý vị đang hành Ānāpānasati, niệm hơi thở, quý
vị phải tập trung chỉ vào mỗi đối tượng hơi thở thôi. Khi ăn, cũng phải tập
trung trên đối tương hơi thở, càng nhiều càng tốt. Nhưng không dễ để chú tâm
trên đối tượng hơi thở khi đang ăn, tuy nhiên hãy cố gắng, được chừng nào hay
chừng đó. Nhưng nếu đang hành thiền Tuệ, khi ngồi thiền quý vị có thể quán sát
danh và sắc là vô thường, khổ, vô ngã. Khi đi, đứng, nằm, ngồi, .. mọi tư thế
quý vị đều có thể quán sát danh-sắc và các nhân của chúng là vô thường-khổ-và
vô ngã, cũng vậy khi ăn quý vị cũng phải quán sát danh-sắc là vô thường, khổ
hay vô ngã. Hiện tại quý vị đang hành Ānāpānasati, ở mọi oai nghi, mọi nơi mọi
lúc, quý vị chỉ nên chú tâm vào đối tượng hơi thở mà thôi, cả khi ăn cũng vậy,
ghi nhận đối tượng hơi thở được càng nhiều càng tốt.
Giọng nữ : Vậy thưa Sayadaw, có phải là ý Ngài vừa nói,
hiện tại người đang hành Niệm hơi thở, khi ăn cũng phải lấy hơi thở làm đối
tượng thiền, chứ không phải vào việc ăn và chỉ tập trung vào hơi thở mà thôi,
phải không ạ ?
Sayadaw : Đúng vậy. Không dễ nhưng hãy cố gắng tập
trung được nhiều chừng nào, tốt chừng ấy. Nên cố gắng!
Giọng nam: Con xin có câu hỏi. Con không biết liệu con
có hiểu sai về câu trả lời của Ngài không. Ngài nói vầy: Khi hành thiền niệm
hơi thở vô và niệm hơi thở ra, dù trong thời gian ăn cơm, Ngài đề nghị chúng
con hành niệm hơi thở vô và niệm hơi thở ra. Con có câu hỏi này: trong Bài kinh
“Meghiya Sutta” Trưởng lão Sariputta đề nghị Đại Đức Rahula hành đề mục niệm
hơi thở, sau đó Đại Đức Rahula khi gặp lại Trưởng lão Sariputtta, Ngài dạy Đại
Đức 7 đề tài trong khi niệm hơi thở, mà đối với Đại Đức Meghiya, Ngài Sariputta
chỉ dạy 5 đề tài. Vậy làm cách nào chúng con biết được việc thực hành của mình
là như thế nào?
Sayadaw: Có lẽ họ là những chuyên gia rồi. Lúc bấy giờ
Đại Đức Rahula đã có thể phân biệt danh-sắc và các nhân của chúng là vô
thường-khổ-vô ngã, Đại đức đã giác tri rõ. Dầu ĐĐ đã giác tri, nhưng đây lại là
một cách khác nữa, vì ĐĐ có thể hành cả thiền Định lẫn thiền Tuệ. Nhưng trong
Bài kinh “Mahārāhulovàda sutta” Trưởng lão Sariputta khuyến khích ĐĐ Rahula nên
hành Ānāpāna, tức niệm hơi thở vì các oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi của ĐĐ lúc
ấy rất tốt. Các oai nghi như thế rất thích hợp cho việc hành Ānāpāna.
Nếu quý vị hành niệm đề mục hơi thở Ānāpānasati, có 4 giai đoạn 4 (
catukka), mỗi giai đoạn gồm 4 bước. Giai đoạn đầu tiên là thiền định Samatha,
giai đoạn thứ 2, thứ 3, thứ 4 là thiền tuệ Vipassanā. Vậy có cả thẩy 16 bước
khi hành niệm hơi thở, Ānāpānasati.
Lúc ấy ĐĐ Rahula có thể hành cả thiền Định (Samatha) lẫn thiền Tuệ
(Vipassanā)
Giọng nam : Cùng lúc ạ ?
Sayadaw : Không, trong cùng một thời ngồi. Trong cùng 1
thời ngồi thì ĐĐ có thể, nhưng đồng thời thì không dễ, vì trong một sát na tâm,
có lẽ không thể liễu tri được tất cả các hành cùng lúc. Các Ngài phải hành
riêng biệt. Trong một thời ngồi, các Ngài có thể, chẳng hạn như, trước tiên khi
hành Ānāpāna, ngay khi các Ngài tọa thiền, các Ngài có thể hành Ānāpāna, niệm
hơi thở để đạt đến Tứ thiền. Đây là lúc thiền Định. Xả Tứ thiền, các Ngài có
thể phân biệt danh-sắc và các nhân của chúng là vô thường-khổ-vô ngã. Đây là
lúc thiền Tuệ. Vậy trong cùng một thời ngồi, các Ngài có thể hành cả thiền Định
(Sāmatha), và thiền Tuệ (Vipassanā). Nhưng khi Đức Phật thuyết Bài kinh
“Mahārāhulovāda sutta” lúc ấy ĐĐ Rahula đã 18 tuổi. ĐĐ nhập chúng làm sadi lúc
7 tuổi, từ lúc 7 tuổi đến năm 18 tuổi, suốt 11 năm ĐĐ đã hành thiền.
Giọng nam: Thưa Sayadaw, con nghe có người nói kinh hành
cũng quan trọng như thiền tọa vậy. Con biết có vài thiền sinh họ chỉ ngồi thiền
mà không có thời kinh hành. Vậy có tỉ lệ nào giữa thời thiền tọa và thời kinh
hành hay không, ví dụ như khi tọa thiền là 20 phút thì phải kinh hành 10 hay 20
phút? Liệu có tỉ lệ giữa hai thời này không ?
Sayadaw: Cả hai đều quan trọng, tuy nhiên thiền tọa
quan trọng hơn. Đối với người mới bắt đầu, tọa thiền giúp cho việc định tâm trở
nên sâu hơn, còn khi kinh hành họ khó mà giữ được sự tập trung cho tốt. Tuy
nhiên đối với các vị đã chuyên nghiệp thì chẳng là vấn đề, bất kỳ oai nghi nào
đều có thể định được, bởi các Ngài đã chuyên nghiệp.
Vì vậy, khi hành thiền định, nếu quý vị có thể chú tâm trên đề mục thiền
định của mình được hơn 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ đồng hồ mỗi thời ngồi, thì tốt hơn.
Và nếu quý vị có thể duy trì định tâm được 3 giờ mỗi thời ngồi, định của quý vị
sẽ trở nên dần dần sâu hơn. Sự định tâm như vậy sẽ là nhân hổ trợ cho tuệ căn
cao hơn. Khi quý vị đạt đến định, quý vị có thể dễ dàng thẩm sát được danh-sắc
và bản chất vô thường-khổ-vô ngã của chúng. Bởi một tâm định sâu sắc có thể tạo
ra một loại ánh sáng thật sáng và vô cùng mạnh. Khi ánh sáng này thật sáng và
thật sung mãn, quý vị có thể thấy mọi Pháp. Nhưng nếu ánh sáng này yếu đi, quý
vị không thể thấy rõ. Cũng vậy, khi tâm định sâu sắc, sẽ sinh ra loại ánh sánh
thật sáng và mạnh. Ánh sáng này được gọi là Ánh Sáng Trí Tuệ. Khi Ánh Sáng Trí
Tuệ này hiện hữu, nếu quý vị hành thiền Minh sát (thiền Tuệ), Minh sát Tuệ của
quý vị sẽ trở nên bén hơn và sâu sắc hơn. Minh sát tuệ này có thể làm nhân hổ
trợ cho Đạo quả Tuệ cao hơn và nhanh chóng chứng ngộ Niết Bàn.
Giọng nam: Vậy là không cần thiết, chẳng hạn như kinh
hành 30 phút sau khi ngồi thiền được 1 tiếng, thưa Ngài?
Sayadaw: Không cố định như vậy, còn tùy vào tình huống
và ý muốn của vị đó. Nhưng đối với người mới bắt đầu, định chỉ dần trở nên sâu
hơn khi ngồi, còn khi đi kinh hành, định chưa thể sâu được.
Giọng nam: Thưa Ngài, thỉnh thoảng khi chú tâm trên hơi
thở, đối tượng điểm chạm có vẻ như ở hơi xa, và có khi nó có vẻ rõ hơn và gần
hơn. Có phải là khi mình thấy rõ và gần thì mình mới có sự hiểu biết thấu suốt,
còn khi thấy nó ở xa thì mình thiếu sự hiểu biết rõ rāng?
Sayadaw: Lúc đó bạn không nên thẩm sát quá nhiều, nếu
thẩm sát quá nhiều, định sẽ giảm đi. Tại sao? Khi Trạch pháp giác chi trở nên
quá trội, nhóm Định giác chi sẽ bị giảm đi. Điều này là tự nhiên. Vì vậy, sau khi
ngồi xuống, nên để ý đến đối tượng hơi thở mà thôi. Bạn nên chọn cố định một
điểm, có thể ở đỉnh môi trên hay quanh lỗ mũi, sau khi cố định một chỗ, bạn nên
đặt trọng tâm trên đối tượng hơi thở. Khi có thể định tâm trên hơi thở, bạn
không cần thẩm sát liệu hơi thở có đang ở trên điểm chạm hay đang ở xa điểm
chạm. Vì với hầu hết những người mới hành thiền, khi định của họ trở nên sâu
hơn, họ không còn thấy điểm xúc chạm hay cảm giác xúc chạm, đặc biệt họ cũng
không còn cảm nhận lỗ mũi, mặt, đầu, thân hình, chỉ có hơi thở và tâm. Lúc ấy,
không nên thẩm sát quá nhiều rằng liệu hơi thở có đang ở trên điểm chạm hay
không,… Nếu làm vậy, định của bạn sẽ nhanh chóng yếu giảm, lúc đó bạn sẽ thấy
lại mũi, mặt, v.v… Do bởi nguyên nhân đó, khi định của bạn trở nên sâu hơn, hơi
thở và tâm thường ở với nhau, lúc đó sẽ không còn thấy điểm chạm. Lúc đó, đừng
có đi tìm điểm chạm, chỉ chú tâm đến hơi thở mà thôi.
Giọng nam: Có phải lúc này Ngài muốn nói, đối tượng hơi
thở chỉ còn là một khái niệm?
Sayadaw: Đúng vậy.
Giọng nữ: Thưa Ngài, có lúc, không thấy Nimitta, nhưng
mình có thể thấy ánh sáng, và mình cứ tiếp tục (tập trung trên hơi thở), mà
không lo nghĩ về điều gì khác ạ?
Sayadaw: Đúng vậy. Ánh sáng trí tuệ và ánh sáng của
Nimitta là khác nhau, nhưng chúng là cùng một nguồn. Cùng một nguồn có nghĩa là
cùng do tâm định khởi lên nương nơi sắc ý căn (heart-base) hay tâm cơ phát sanh
ra. Bất kỳ tâm nào khởi sanh dựa vào sắc ý căn đều tạo ra các Kalāpa – được
dịch là các tổng hợp sắc nhỏ li ti – do tâm sanh. Các hạt tổng hợp sắc này (gọi
tắt là Kalāpa) lan tỏa khắp thân. Một sát na tâm có thể tạo ra vô số Kalāpa.
Nếu phân tích các Kalāpa này, có 8 yếu tố sắc là: đất, nước, lửa, gió, màu,
mùi, vị, dưỡng tố. Trong số đó có yếu tố màu. Màu lúc này phát sáng tùy thuộc
vào năng lực định và tuệ căn của quý vị. Tâm định luôn kết hợp với tuệ căn (The
concentrated mind is always associated with wisdom faculty). Khi tuệ căn sung
mãn (mạnh), ánh sáng trở nên rất mạnh, ánh sáng trở nên sáng hơn và mạnh hơn.
Trong mỗi Kalāpa do tâm sanh, còn có yếu tố lửa, hay được gọi là nhiệt (utu).
Nhiệt đó còn tạo ra thế hệ các Kalāpa mới. Khi định trở nên sâu hơn và mạnh mẽ
lên, tăng thượng tâm này có thể sản sinh ra các Kalāpa do tâm sanh. Trong các
Kalāpa này, yếu tố lửa hay nhiệt trở nên nổi trội, yếu tố nhiệt nổi trội này
còn sản sinh ra tiếp các Kalāpa mới, các Kalāpa này trở nên nổi trội hơn. Nếu
phân tích các hạt Kalāpa này, mỗi hạt Kalāpa có 8 loại sắc, trong số 8 loại sắc
này có màu, màu lúc này cũng sáng. Do vậy sự kết hợp của 2 loại màu, màu trong
Kalāpa do tâm định sanh và màu trong Kalāpa do nhiệt sanh, trở nên rất sáng,
ánh sáng trí tuệ (the light of wisdom), tỏa khắp thân, bao bọc quanh thân.
Còn Nimitta, Nimitta cũng do tâm sanh, tâm quý vị có thể sản sinh ra hơi
thở. Nếu quý vị có thể phân biệt tứ đại trong đối tượng hơi thở, sẽ thấy hơi
thở không là gì ngoài một nhóm các tổng hợp sắc nhỏ li ti, Kalāpa. Nếu phân
tích tiếp các tổng hợp sắc này, có 9 loại sắc : đất, nước, lửa, gió, màu, mùi,
vị, dưỡng chất và âm thanh thở (breathing sound) (đoạn 18:00), tộng cộng là 9.
Trong số 9 loại sắc tố đó, còn có màu, màu cũng trở nên sáng khi định sâu hơn.
Về hơi thở, nếu quý vị hành thiền phân tích tứ đại (4 elements meditation)
trong hơi thở một cách hệ thống, quý vị sẽ thấy được vô số Kalāpa, vô số các
tổng hợp sắc. Sự kết hợp màu của Kalāpa này với màu của Kalāpa kia trở nên dày
đặc, trở thành Nimitta. Nhưng Nimitta đối với vài người còn xuất hiện bên ngoài
lỗ mũi. Ngoài lỗ mũi, Nimitta thường là màu của Kalāpa do nhiệt sanh, nhiệt đó
ở trong Kalāpa do tâm sanh. Nhiệt này tiếp tục sanh ra các Kalāpa mới. Màu của
các Kalāpa trở thành Nimitta. Vì vậy nguồn gốc sinh ra chúng là giống nhau,
nhưng ánh sáng trí tuệ và Nimitta là hoàn toàn khác nhau, Khi hơi thở trở thành
ánh sáng, thì ánh sáng này mới được gọi là Nimitta.
Nhưng ánh sáng trí tuệ thì bao bọc quanh thân hình, trong mọi hướng. Vậy
chúng khác nhau. Đối với một số người, khi họ hành Ānāpānasati, họ có thể cảm
nhận được ánh sáng trí tuệ. Một vài thiền sinh có thể thấy Nimitta trước. Do
vậy họ là hai nhóm thiền sinh khác nhau. Nhưng ánh sáng, khác nhau chỗ nào? Khi
hơi thở trở thành Nimitta, ánh sánh trí tuệ có ở chỗ này, ở chỗ này, ở chỗ này,
v.v. (Ngài đưa tay chỉ quanh đầu), trong mọi các hướng khác nhau. Nhưng ánh
sánh trí tuệ không phải là đối tượng thiền của quý vị, Chỉ có Nimitta mới là
đối tượng thiền của quý vị mà thôi. Vậy nên để chắc chắn nắm rõ và phân biệt
được về Nimitta và ánh sáng trí tuệ, quý vị chỉ nên chú tâm trên đối tượng hơi
thở thôi, khi đối tượng này trở nên trắng và sáng, thì nó được gọi là Nimitta.
Giọng nữ: Vậy thưa Ngài, Nimitta sau đó trở thành ánh
áng sang trí tuệ ạ? Liệu một thiền sinh có thể ban đầu có được Nimitta, và sau
đó Nimitta trở thành ánh sáng trí tuệ ạ?
Sayadaw: Ồ, không phải vậy. Với những người mới bắt
đầu, có thể với một vài thiền sinh, hơi thở trở nên màu trắng, màu trắng và hơi
thở hợp nhất lại cùng nhau, hơi thở là màu trắng và màu trắng là hơi thở, chúng
là một, đây gọi là Nimitta. Lúc ấy ánh sáng trí tuệ cũng khởi sinh ở quanh
thân. Với vài thiền sinh, ánh sáng trí tuệ có ở đây, ở đây, ở đây..v.v., nó có
thể sinh lên ở các hướng khác nhau với những người mới bắt đầu. Nhưng khi định
trở nên sâu hơn, ánh sáng trí tuệ sẽ có ở mọi hướng. Nhưng lúc ấy chúng là hoàn
toàn khác nhau. Ví dụ như đây là Nimitta (Ngài chỉ vào 1 chỗ bên ngoài minh
họa), thì ánh sáng trí tuệ ở đây, chúng hoàn toàn khác nhau. Ý của tôi là
Nimitta không thể sinh ra ánh sáng này, ánh sáng này là do Tuệ căn tương ưng
với Định sanh. Tuệ căn đó có thể tạo ra ánh sáng.
Giọng nam: Liệu Nimitta có thể kết hợp với ánh sánh trí
tuệ trở thành một chăng hay liệu chúng có thể được sử dụng như nhau?
Sayadaw: Thường thì không như nhau. Diễn đạt cách
khác, Nimitta là do tâm định sanh, ánh sáng trí tuệ cũng do tâm định sanh.
Nguồn sanh giống nhau. Song điều gì là khác ? Ánh sáng trí tuệ thì ở mọi hướng,
có thể đối với một số hành giả, nó tỏa rất xa, đến vài dặm, hoặc phủ khắp vũ
trụ hoặc đến các vũ trụ khác. Ví dụ như ĐĐ Anuruddha chẳng hạn, khi đang khai
triển thần thông, định này có thể sinh ra ánh sáng phủ khắp cả ngàn thế giới…
Đây mới là ánh sáng trí tuệ, tỏa khắp châu thân. Nhưng Nimitta thì chỉ ở đây
thôi (Ngài chỉ vào trước mũi), Nimitta của Ānāpāna chỉ hòa quyện với hơi thở tự
nhiên tại đây thôi.
Giọng nữ: Thưa Ngài, vậy nó có nghĩa Nimitta là màu từ
các hạt sắc nhỏ li ti của thân hơi thở?
Sayadaw: Đúng vậy. Trước khi thấy được các sắc cùng
tột (hay sắc chân đế) trong đối tượng hơi thở, khi ấy bạn có thể chỉ thấy
Nimitta như là một khối màu dày đặc của đối tượng hơi thở mà thôi. Nếu quý vị
có thể hành thiền phân biệt tứ đại một cách hệ thống trên Nimitta, lúc đó quý
vị không còn thấy khối màu kết chặt nữa, mà chúng sẽ vỡ ra, bao gồm thành các
hạt nhỏ li ti, các tổng hợp sắc. Lúc ấy nếu quý vị có thể tiếp tục phân tích
các tổng hợp sắc này, quý vị sẽ thấy chỉ có sắc chân đế.
Giọng nữ: Vậy như Ngài nói, Nimitta là vật sáng, nó
không phải là đối tượng của thiền Minh sát như chúng ta vẫn thường quán về khổ,
vô thường…?
Sayadaw: Nimitta chỉ là đối tượng của thiền Định, không phải là đối
tượng của thiền Minh Sát. Nếu quý vị muốn hành loại thiền Minh Sát, quý vị phải
phân biệt tứ đại, đất, nước, lửa, gió, v.v.. trong hơi thở. Lúc đó quý vị sẽ
thấy hơi thở không là gì mà chỉ là một nhóm hạt nhỏ li ti, các tổng hợp sắc
(THS). Lại nữa, nếu tiếp tục phân tích các THS, quý vị sẽ trực tri được sắc
chân đế. Lúc ấy không có Nimitta, hơi thở không thể trở thành Nimitta.
Giọng nữ: Vậy khi Ngài mô tả cái ánh sáng quanh đầu, độ
sáng như thế chỉ được sinh ra trong khi hành thiền định, chứ không được sinh ra
trong thiền Minh sát ạ ?
Sayadaw: Có chứ, cả thiền minh sát cũng tạo ra ánh
sáng này, cả thiền định nữa.
Giọng nữ: Con còn câu hỏi nữa. Khi hành thiền làm cách
nào để chống lại cảm giác buồn ngủ khi cơn buồn ngủ kéo đến, có cách nào khắc
phục ạ ?
Sayadaw: Quý vị nên thử cách này (Ngài dùng tay xát
vào hai lỗ tai, trên đầu…). Có thể nếu quý vị chà xát vào hai tai, vào đầu, cơn
buồn ngủ sẽ biến mất, nếu không ổn nữa, nên mở mắt nhìn ánh sáng, như ánh sáng
mặt trời v.v…, khi nhìn ánh sáng vài phút, 5 hay 10 phút, cơn buồn ngủ có thể
biến mất. Có khi quý vị có thể ôn lại Bài kinh nào đó mà mình từng học thuộc
lòng trọn Bài như Bài Kinh Chuyển Pháp Luân Dhammacakkapavattāna sutta hay Bài
Kinh Vô Ngã Tướng Anatta lakkhaṇa sutta. Nếu quý vị không có Bài kinh nào, quý vị có thể đứng dậy, đi
kinh hành. Nếu vẫn không hết buồn ngủ, quý vị có thể đi rửa mặt…
Giọng nữ: Thưa Ngài, ý Ngài muốn nói rằng có thể chống
lại trạng thái này, nếu mình ôn lại Bài kinh nào đó ạ ?
Sayadaw: Bài kinh nào mà quý vị đã từng học qua, như
Kinh Vô Ngã Tướng Anatta Lakkhaṇa Sutta, v.v.. rất nhiều Bài, nhưng nên đọc thầm trong tâm thôi.
Giọng nam: Thưa Ngài, Ngài dạy rằng, khi hành
Ānāpānasati, đừng có nghĩ đến điểm chạm. Xong, có thể con còn mới quá, nên đôi
khi cá nhân con cần đặt tâm đụng đến đến điểm của đối tượng để khiến con cảm
thấy là con đang tập trung đến đối tượng. Thực hành như vậy có sai không thưa
Ngài ?
Sayadaw: Không, không vấn đề gì.
Giọng nam: Không sao ạ? Dần già điểm chạm tiêu mất?
Sayadaw: Từ từ khi định của quý vị sâu hơn, quý vị có
thể sẽ quên điểm chạm, quý vị có thể không cảm giác sự xúc chạm nữa. Có thể quý
vị chỉ còn cảm thấy hơi thở, lúc ấy là tốt. Tại sao chúng ta lại cố định sự chú
tâm vào hơi thở tại điểm chạm? Chỉ để khỏi theo hơi thở vào trong hay ra ngoài
mà thôi.
Giọng nam: Vì thỉnh thoảng con cảm thấy mình mất đối tượng,
con tự nhắc rằng mình hành thiền là để tâm liên hệ đến đối tượng. Như vậy có
được không ạ?
Sayadaw: OK.
Giọng nam: Thưa Ngài, nếu mình thấy điểm xúc chạm hay
cảm giác xúc chạm, lúc đó tâm của mình có thể dễ bị trượt đi. Vậy làm cách nào
có thể biết rõ 100 lần rằng tâm mình đã thực sự trôi đi ?
Sayadaw: Nếu quý vị không hiểu rõ đối tượng hơi thở
hay nếu quý vị không tập trung trên đối tượng hơi thở, quý vị sẽ có thể dễ dàng
hiểu là mình đang có phóng tâm. Nếu tâm phóng đi, hãy tức thời tập trung tâm
trở lại trên hơi thở ở đây, càng nhanh càng tốt.
Giọng nam: Liệu có thể hành đề mục Kasiṇa Trắng (biến xứ trắng), không cần tham khảo bộ
xương? Vì nó đã nằm trong ba-la-mật đời trước, nên Kasiṇa trắng trở nên dễ dàng, con
không cần tập trung trên bộ xương để hình dung biến xứ. Liệu có thể được chăng
?
Sayadaw: Được, nếu nó đã có sẵn trong ba-la-mật đời trước của quý vị.
(Sayadaw hồi hướng)