Xin vui lòng đảnh lễ đến Đức Phật bằng cách tụng Namo Tassa 3 lần.
Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa (3 lần)
Hôm nay, tôi sẽ tiếp tục hướng dẫn Thiền Niệm Hơi Thở.
Trong thiền Niệm hơi thở, có 4 bước, những buổi dạy Pháp trước, tôi cũng
đã thảo luận. Hôm nay tôi sẽ lặp lại.
Có 4 giai đoạn trong Thiền niệm hơi thở:
“Dīghaṁ vā
assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti
pajānāti,
dīghaṁ vā
passasanto ‘dīghaṁ
passasāmī’ti pajānāti.”
“Hít vào một hơi thở dài, vị ấy biết tôi hít vào một hơi thở dài,
Thở ra một hơi thở dài, vị ấy biết tôi thở ra một hơi thở dài”
“Rassaṁ vā
assasanto ‘rassaṁ assasāmī’ti
pajānāti,
rassaṁ vā
passasanto ‘rassaṁ
passasāmī’ti pajānāti.”
“Hít vào một hơi thở ngắn, vị ấy biết tôi hít vào một hơi thở ngắn,
Thở ra một hơi thở ngắn, vị ấy biết tôi thở ra một hơi thở ngắn”.
Đây là giai đoạn hai.
Trong khi bạn đang thực hành Niệm hơi thở, nếu bạn tập trung vào hơi thở
tại điểm xúc chạm, lúc đó quý vị nên gắng biết rõ: khi nó dài, quý vị nên biết
rõ đây là hơi thở dài; khi nó ngắn, quý vị nên biết rõ: đây là hơi thở ngắn.
Đừng nên cố ý khiến hơi thở dài hay ngắn, quý vị nên để hơi thở tự nhiên. Việc
ghi nhận hơi thở dài và hơi thở ngắn là rất quan trọng. Không cần thiết phải
làm cho hơi thở dài hay ngắn. Nếu quý vị không thể tập trung tốt vào hơi thở,
Chú Giải khuyên nên đếm hơi thở. Trong khi đang đếm hơi thở, lúc ấy quý vị cũng
nên gắng biết rõ: khi nó dài, quý vị nên gắng biết rõ hơi thở dài; khi nó ngắn,
quý vị nên gắng biết rõ hơi thở ngắn. Chỉ việc biết là được rồi, nhưng xin hãy
thực hành đếm hơi thở. Nếu có nhiều phóng tâm, tốt hơn hãy niệm: khi hít vào,
quý vị nên niệm hít vào, khi thở ra, quý vị nên niệm thở ra, hít vào, thở ra
đếm 1, hít vào, thở ra đếm 2,… cho đến 8, rồi lặp lại từ 1 cho đến 8 và tiếp
tục lặp lại.. . Trong khi đang đếm và niệm, quý vị nên gắng biết rõ hơi thở dài
và ngắn. Nếu quý vị có thể tập trung vào hơi thở được nữa giờ hay một giờ đồng
hồ trong 2 hay 3 thời ngồi, vậy quý vị có thể ngưng đếm hơi thở được rồi.
Nếu ngưng đếm hơi thở, quý vị nên thử bước kế tiếp:
‘Sabbakāyapaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati,
‘Sabbakāyapaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati
“Kinh nghiệm trọn vẹn thân hơi thở, tôi sẽ thở vào, như thế vị ấy luyện
tập;
Kinh nghiệm trọn vẹn thân hơi thở, tôi sẽ thở ra, như thế vị ấy luyện
tập.
Ở giai đoạn này, quý vị nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở của mình
(toàn bộ thân hơi thở). Trọn vẹn thân hơi thở là gì? Từ lúc bắt đầu cho đến lúc
kết thúc của hơi thở quý vị nên gắng biết rõ. Bắt đầu tại đâu, kết thúc tại
đâu? Chỉ tại điểm xúc chạm thôi, nếu quý vị cố định điểm xúc chạm quanh lỗ mũi
hay trên đỉnh môi trên, thì chỉ tại đấy, quý vị nên chờ và thấy từ lúc bắt đầu
đến lúc kết thúc của mỗi hơi thở. Khi hít vào, quý vị nên hiểu rõ trọn vẹn từ
đầu cho đến cuối thân hơi thở vào. Khi thở ra, quý vị nên gắng biết rõ trọn vẹn
từ đầu cho đến cuối thân hơi thở ra, chỉ tại một điểm. Không cần thiết phải
theo hơi thở vào bên trong hay đi ra ngoài. Lúc ấy, có lúc quý vị có thể hít
vào chậm, hơi thở chậm này được gọi là hơi thở dài. Khi nó dài, quý vị chỉ nên
gắng biết rõ trọn vẹn hơi thở dài này. Có lúc quý vị thở nhanh, hơi thở nhanh
này được gọi là hơi thở ngắn. Khi nó ngắn, quý vị chỉ nên gắng biết rõ trọn vẹn
hơi thở ngắn này. Vậy 3 giai đoạn này được kết hợp cùng nhau: hơi thở dài, hơi
thở ngắn và trọn vẹn hơi thở.
Sau đó, nếu quý vị có thể tập trung vào đối tượng hơi thở hơn 1 giờ hay
2 giờ, .. từ từ hơi thở của quý vị sẽ trở nên vi tế, rất nhẹ và rất mảnh. Khi
hơi thở trở nên vi tế, lúc ấy quý vị nên gắng biết rõ hơi thở vi tế ấy mà thôi.
Quý vị không nên làm cho hơi thở rõ ràng trở lại, xin hãy chấp nhận hơi thở vi
tế ấy. Việc ghi nhận hơi thở vi tế này rất là quan trọng lúc này.
Nếu hơi thở của quý vị chưa vi tế, lúc ấy quý vị nên có Định Hướng đến
(ābhoga) hay quyết định. Quyết định là gì? Sau khi ngồi xuống, trước khi chú ý
đến hơi thở, quý vị nên quyết định: “Hơi thở của tôi phải trở nên an tịnh”,
theo cách này quý vị nên quyết định.
Lúc ấy, quý vị đang bước vào giai đoạn thứ tư. Gì là giai đoạn thứ tư?
“ ‘Passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ assasissāmī’ti sikkhati,
Passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ passasissāmī’ti sikkhati”
“An tịnh toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở vào, như thế vị ấy luyện tập;
An tịnh toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở ra, như thế vị ấy luyện tập.”
Đây là giai đoạn thứ tư. Vào giai đoạn này hơi thở trở nên rất rất vi tế
và không bao lâu Nimitta sẽ xuất hiện.
Nimitta là gì? Thông thường với nhiều hành giả, hơi thở đi ra ngoài lỗ
mũi trở thành màu khói xám, có thể có cả những màu khác. Màu gì không quan
trọng lắm. Hơi thở đi ra từ lỗ mũi trở nên màu khói xám, màu khói xám này khi
hợp nhất với hơi thở được gọi là Nimitta (tức là tướng hơi thở). Nhưng nếu nó
chưa hợp nhất với hơi thở, quý vị không thể gọi nó là Nimitta được. Nimitta là
định tướng. Do có tâm định mà Nimitta này xuất hiện, vì thế nó là định tướng.
Lúc đó, quý vị có thể nói là định đang phát triển.
Nếu có thể tập trung vào Nimitta ấy, định của quý vị còn có thể phát
triển tốt hơn nữa. Bởi nguyên nhân này, Nimitta này còn là nhân của định. Khi
tập trung vào Nimitta, quý vị nên chắc chắn là hơi thở của mình và Nimitta hợp
nhất với nhau : hơi thở là Nimitta, Nimitta là hơi thở, Nimitta và hơi thở là
một thứ.
Lúc ấy, quý vị chỉ nên tập trung vào một mình Nimitta. Khi tập trung vào
Nimitta, quý vị nên quên đi hơi thở của mình, bởi vì nếu quý vị thỉnh thoảng
chú ý đến hơi thở, vậy có thể có 2 đối tượng: có lúc là Nimitta, lúc thì hơi
thở. Nếu có 2 đối tượng, định không thể phát triển thêm. Vì nguyên nhân này,
khi hơi thở trở nên vi tế, là rất tốt. Tại sao? Khi Nimitta xuất hiện, lúc ấy
quý vị cần tập trung vào Nimitta. Khi đang tập trung vào Nimitta, lúc đó nếu
hơi thở còn thô, có khi quý vị chú ý đến hơi thở, có lúc chú ý đến Nimitta. Vậy
lúc có hai đối tượng, định không thể phát triển cao hơn, vì không phải có một
đối tượng mà đến hai đối tượng. Bởi vậy, khi hơi thở trở nên vi tế, rất tốt.
Nếu quý vị có thể định trên hơi thể vi tế ấy, không lâu sau Nimitta sẽ
xuất hiện. Nhưng nếu quý vị cố tình thở cho vi tế, rồi quý vị sẽ bị mệt, quý vị
không thể thở hoàn chỉnh. Vì nguyên nhân này, quý vị không nên cố tình ráng làm
cho hơi thở vi tế. Nhưng trước khi chú ý đến hơi thở, quý vị nên quyết định:
“Hơi thở của tôi phải an tịnh”. Quyết định ấy là đủ. Đây được gọi là ābhoga,
quyết định.
Nhưng khi đang thở vào, đang thở ra, quý vị không nên cố tình làm cho
hơi thở an tịnh hay vi tế. Nếu quý vị làm vậy, quý vị sẽ bị mệt và định sẽ
không thể phát triển. Hơi thở chỉ thực sự an tĩnh khi quý vị đạt đến giai đoạn
tứ thiền, lúc ấy, hơi thở của quý vị sẽ hoàn toàn dừng lại. Hơi thở sẽ ngưng
bặt khi quý vị đạt đến tứ thiền. Nhưng trước giai đoạn tứ thiền, ở sơ thiền,
hơi thở cũng trở nên nhẹ nhàng, rất vi tế. Khi quý vị đạt đến nhị thiền, hơi
thở lúc ấy cũng rất rất vi tế. Khi quý vị đạt đến tam thiền, hơi thở lúc ấy
cũng rất rất vi tế. Nhưng khi đạt đến tứ thiền, hơi thở lúc ấy hoàn toàn dừng
lại, chỉ mỗi Nimitta là còn hiện diện.
Vì vậy, khi tập trung vào Nimitta, quý vị chỉ nên chú ý tới một mình
Nimitta mà thôi. Nếu quý vị có thể định trên Nimitta được hơn 1 giờ hay 2 giờ,
khi định của quý vị phát triển thêm nữa, rồi thì màu khói xám sẽ đổi sang màu
trắng, như bông gòn. Nhưng khi tập trung vào Nimitta, quý vị không nên để ý đến
màu, không nên chú ý đến hình thù, không nên chú ý đến các đặc tính của tứ đại.
Nếu chú ý đến màu sắc, thì màu sẽ luôn thay đổi khi tâm của quý vị thay đổi. Ví
dụ như, nếu quý vị muốn là màu vàng, Nimitta sẽ trở thành màu vàng, nếu quý vị
muốn là màu đỏ, Nimitta sẽ là màu đỏ. Nếu màu luôn thay đổi, định của quý vị
không thể sâu, vì tâm của quý vị luôn thay đổi những đối tượng khác nhau, những
màu khác nhau. Theo cách tương tự, quý vị không nên chú ý đến hình thù, hình
dạng : nếu quý vị muốn dài, Nimitta sẽ trở nên dài; nếu quý vị muốn trắng,
nimitta sẽ trở nên trắng; nếu quý vị muốn tròn, Nimitta sẽ trở nên tròn. Theo
cách này, hình thù sẽ luôn thay đổi theo tưởng của quý vị, thế là Nimitta cũng
luôn thay đổi. Vì thế, nếu nimitta luôn thay đổi, định không thể phát triển sâu
hơn. Bởi nguyên nhân này, quý vị cũng không nên chú ý đến hình thù. Rồi nữa,
các đặc tính: cứng, nhám, nặng, mềm, trơn, nhẹ, chúng là các đặc tính của đất;
chảy kết dính, chúng là đặc tính của nước; nóng, lạnh, chúng là đặc tính của
lửa; nâng đỡ, đẩy, chúng là đặc tính của gió. Cứng, nhám, nặng, mềm, trơn, nhẹ,
chảy, kết dính, nóng, lạnh, nâng đỡ, đẩy là tứ đại. Quý vị không nên chú ý đến
các đặc tính này khi đang hành Niệm hơi thở. Nếu chú ý đến các đặc tính này, nó
không thể là Thiền niệm hơi thở, nó chỉ là Thiền tứ đại. Vì vậy, nếu quý vị
muốn thực hành Thiền niệm hơi thở, quý vị cũng không nên chú ý đến các đặc tính
này của tứ đại.
Do vậy khi đang tập trung vào Nimitta, lúc ấy, khi định của quý vị phát
triển sâu thêm, rồi thì Nimitta sẽ trở nên trong và sáng, nimitta màu trắng sẽ
đổi sang Nimitta trong suốt. Màu khói xám được gọi là parikamma nimitta – sơ
tướng (preliminery sign). Nimitta màu trắng được gọi là uggaha nimitta – học
tướng (learning sign). Nimitta trong và sáng được gọi là Paṭibhāganimitta – tợ tướng
(counterpart sign).
Có 3 giai đoạn:
Tợ tướng này là đối tượng của cận định và cũng là đối tượng của an chỉ
định, định của bậc thiền. Khi nimitta trở nên trong sáng, quý vị nên tập trung
chỉ mỗi mình nimitta thôi. Khi định của quý vị trở nên sâu hơn và sâu hơn, thì
an chỉ định (hay full absorption) sẽ xuất hiện. An chỉ định nghĩa là tâm của
quý vị chìm sâu vào bên trong nimitta không lay động. Quý vị nên duy trì an chỉ
định của mình cho được hơn 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ…. Nếu quý vị có thể duy trì an
chỉ định được hơn 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ mỗi thời ngồi, trong 2 hay 3 ngày, vậy
quý vị có thể trực nhận các thiền chi.
Nếu muốn trực nhận các thiền chi, trước tiên quý vị nên thiết lập lại an
chỉ định của sơ thiền cho được 1 giờ. Ngay khi vừa xuất ra khỏi bậc thiền, quý
vị nên chú ý vào bên trong trái tim, nhưng quý vị chỉ nên chú ý trong vài giây
thôi, 1 hay 2 giây, quý vị không nên chú ý lâu. Nếu chú ý lâu, tim của quý vị
sẽ đau. Quý vị sẽ thấy Bhavaṅga (ý căn).
Bhavaṅga (ý căn)
này đối với người mới bắt đầu hơi khó hiểu. Nếu hiểu Vi Diệu Pháp, lúc đó quý
vị sẽ hiểu Bhavaṅga ý căn rõ
ràng, nhưng nếu không hiểu Vi Diệu Pháp, để giải thích Bhavaṅga hơi khó khăn. ( chú thích của
người dịch: Bhavaṅga có 2
nghĩa: một là hữu phần tâm và nghĩa kia là ý căn)
Theo nghiệp đời trước, ngũ uẩn luôn sinh lên và diệt đi. Trong các ngũ
uẩn này, có bốn uẩn thuộc danh được gọi là Tâm hay Danh. Tâm này, có 2 loại :
tâm thuộc tiến trình nhận thức và tâm ngoài tiến trình nhận thức. Tiến trình
nhận thức nghĩa là, như bây giờ, quý vị đang nghe tôi giảng Pháp. Khi đang nghe
Pháp, tiến trình nhận thức qua nhĩ môn và tiến trình nhận thức qua ý môn sinh
và diệt liên tục trong một thời gian. Nhưng có lúc chú ý, quý vị có thể thấy
tôi, lúc ấy tiến trình nhận thức qua nhãn môn sinh khởi cũng như tiến trình
nhận thức qua ý môn. Vậy tiến trình nhận thức này được gọi là lộ trình tâm. Lộ
trình tâm chấm dứt, lúc ấy hữu phần tâm Bhavaṅga xuất hiện. Và khi lộ trình tâm xuất hiện thì hữu
phần tâm dừng lại. Khi lộ trình tâm dừng lại thì hữu phần tâm xuất hiện bởi
nghiệp đời trước, để không dừng lại dòng tương tục tâm. Nếu dòng tương tục tâm
dừng lại, đây được gọi là chết. Để không dừng lại dòng tương tục tâm giữa hai
lộ trình tâm, các hữu phần tâm này sinh lên và diệt đi liên tục trong một thời
gian dài.
Hữu phần tâm này cũng sinh ra các tổng hợp sắc (THS) do tâm sanh. Nếu
chúng ta phân tích các THS này, trong mỗi THS, có 8 sắc, trong số 8 loại này,
có màu. Màu đó cũng trong và sáng. Một hữu phần tâm có thể sản sinh ra vô số
các THS. Trong vài giây, vô số hữu phần tâm có thể sanh lên và diệt đi. Tương
tự vậy với lộ trình tâm, trong vài giây, vô số lần chúng sanh lên rồi mất đi.
Mỗi sát-na tâm khi sinh lên nương nơi sắc ý căn (heart-base) có thể sanh ra các
THS theo cùng cách. Vì thế các hữu phần tâm cũng tạo ra các THS. Nếu chúng ta
phân tích các THS, trong mỗi THS, có 8 sắc, trong số 8 sắc này, có màu, màu này
trong và sáng. Màu của THS này và màu của THS kia kết hợp lại và chúng trở thành
sắc trong suốt ở đây, giống như tấm gương.
Và trong các THS do tâm sanh ấy, có yếu tố lửa. Lửa này còn được gọi là
nhiệt, nhiệt này còn có thể tạo ra các THS mới, thế hệ các hạt mới. Nếu quý vị
phân tích các THS này, trong mỗi THS có 8 sắc. Trong số 8 sắc này, lại có màu,
màu này lại trong và sáng. Tùy vào tuệ căn kết hợp với sát-na tâm hữu phần
(Bhavaṅga mind
moment) mà độ trong và sáng này khác nhau. Nếu tuệ căn, tương ưng với hữu phần
tâm (Bhavaṅga), trở nên
mạnh mẽ thì ánh sáng sẽ rất mạnh.
Vì thế có thể có những khác nhau giữa các thiền sinh. Một số thiền sinh,
Bhavaṅga này sáng
hơn, một vài thiền sinh thì Bhavaṅga có thể sản sinh ra độ sáng cao hơn, nhưng số
khác thì không như vậy, tùy vào tuệ căn mỗi người. Vì nguyên nhân này nên khi
quý vị đang để ý đến Bhavaṅga, quý vị có thể chỉ thấy sắc sáng trong này thôi. Bằng phép ẩn dụ, sắc
sáng trong này được gọi là Bhaganva, hữu phần hay ý căn, chỉ bằng phép ẩn dụ.
Quý vị trước tiên nên gắng hiểu rõ Bhavaṅga, ý căn hay này. Nếu quý vị có thể trực nhận được
Bhavaṅga ý căn
này, là được rồi. Nếu trong vòng 2 hay 3 giây mà có thể trực nhận được rồi, quý
vị nên quay lại với Tợ tướng hơi thở Ānāpānapaṭibhāga nimitta và hãy thiết lập lại định sơ thiền
cho được 5 hay 10 phút. Ngay khi rời khỏi sơ thiền ấy, quý vị nên trực nhận ý
môn lần nữa. Nếu lặp đi lặp lại theo cách này, quý vị có thể hiểu được Bhavaṅga ý căn. Nếu có thể hiểu rõ
Bhaganva ý căn, quý vị nên gắng biết rõ bên trong bhaganva ý căn, tấm gương
trong, xuất hiện tợ tướng hơi thở Ānāpānapaṭibhāga nimitta.
Ví dụ như khi đang đứng trước gương soi, quý vị có thể thấy gương mặt
mình bên trong tấm gương. Vậy tấm gương là khác, gương mặt quý vị bên trong tấm
gương lại khác nữa, chúng là 2 đối tượng khác nhau. Tương tự vậy, vùng sáng ý
căn là khác và tợ tướng hơi thở Ānāpānapaṭibhāga nimitta xuất hiện bên trong vùng sáng ý căn,
lại khác nữa.
Khi có thể phân biệt được 2 đối tượng này, quý vị có thể trực nhận được
các thiền chi:
Tầm, Vitakka là hướng tâm đến đối tượng tợ tướng
Tứ, Vicāra, là trụ tâm trên đối tượng tợ tướng.
Hỷ, Pīti là trạng thái thích thú đối tượng
Lạc, Sukha là sự hài lòng về đối tượng.
Nhất tâm, Ekaggatā, sự nhất tâm này được gọi là Định.
Quý vị nên trực nhận từng thiền chi một. Nếu muốn trực nhận thiền chi,
quý vị nên lập lại sơ thiền cho được 5 hay 10 phút. Khi xuất khỏi sơ thiền, quý
vị nên trực nhận Bhavaṅga ý căn tợ
tướng hơi thở Ānāpānapaṭibhāga
nimitta bên trong ý căn.
Lúc ấy, hãy trực nhận Tầm, sự hướng tâm đến đối tượng tợ tướng. Rồi hãy
lập lại sơ thiền. Xuất khỏi sơ thiền, cùng cách trên trực nhận Bhaganva ý căn
và tợ tướng hơi thở, rồi hãy trực nhận Tứ, trạng thái trụ tâm trên đối tượng.
Cứ cách như vậy, mỗi lần vào sơ thiền, xuất khỏi sơ thiền, quý vị hãy trực nhận
một thiền chi. Theo cách này nếu cố gắng, quý vị có thể phân biệt được các
thiền chi, từng thiền chi một. Nếu có thể trực nhận được 5 thiền chi rồi, quý
vị hãy thiết lập lại sơ thiền cho được 5 hay 10 phút, Ngay khi xuất khỏi sơ
thiền ấy, quý vị nên trực nhận Bhavaṅga ý căn và tợ tướng hơi thở cùng nhau và rồi hãy
trực nhận 5 thiền chi cùng nhau. Lúc ấy quý vị có thể trực nhận được 5 thiền
chi cùng lúc.
Ví dụ, đây, 5 ngón tay, quý vị có thể chú ý đến ngón này trước, ngón
này, ngón này, ngón này, ngón này. Khi trực nhận từng ngón thuần thục, nếu chú
ý 5 ngón cùng lúc, quý vị có thể thấy rõ ràng cả 5 ngón cùng lúc, cùng cách như
vậy.
Sau đó quý vị nên cố gắng thực hành luyện 5 Thiện Xảo (5 Masteries)
trong sơ thiền:
Bất kỳ lúc nào muốn nhập sơ thiền, quý vị nên cố gắng nhập thiền trong
vòng vài phút hay vài giây.
Bất kỳ lúc nào muốn xả thiền, quý vị nên cố gắng xuất khỏi thiền.
Một Thiện Xảo khác là Adhiṭṭhāna, nguyện thiền. Nếu muốn trú trong sơ thiền cho
được 1 tiếng, vậy là quý vị nguyện: “Nguyện cho sơ thiền của tôi kéo dài 1
tiếng!” v.v..Nếu có thể thực hiện nguyện thiền trong 1 giờ rồi, quý vị nên gia
tăng thời gian nguyện thiền lên bao lâu mình có thể.
Một Thiện Xảo khác nữa là “Thiện Xảo trực nhận các thiền chi”. Trong khi
đang trực nhận các thiền chi, nếu quý vị có thể trực nhận (discern) các thiền
chi rất rất nhanh, đây được gọi là “Phản xạ ghi nhận các thiền chi”(āvajjana
vasī) hay “Thiện Xảo suy xét các thiền chi”(paccavekkhana vasī). Gì là sự khác
nhau? Sự khác nhau giữa 2 trí suy xét. Đến lúc trực nhận danh nghiệp xứ, quý vị
sẽ hiểu rõ chúng. Theo Chú giải, trong khi quý vị trực nhận các thiền chi, có
một lộ trình tâm ý môn. Tâm số một là ý môn hướng tâm, và rồi đến 7 hay 5 hay 6
javana, javana này họ dịch là tốc hành tâm, javana này có thể hiểu rõ 5 thiền
chi. Theo cùng cách, ý môn hướng tâm cũng có thể hiểu rõ được 5 thiền chi này.
Nếu ý môn hướng tâm này suy xét được 5 thiền chi, đây được gọi là “Phản xạ ghi
nhận các thiền chi”(āvajjana vasī). Nếu các sát na tâm javana có thể suy xét
được các thiền chi này, đấy được gọi là Thiện xảo suy xét các thiền chi
paccavekkhana vasī. Nhưng với người mới bắt đầu, không cần thiết phải phân biệt
hai Thiện Xảo này. Nếu quý vị có thể trực nhận được các thiền chi rất rất nhanh
là đủ rồi.
Tôi sẽ dừng lại ở đây, quý vị có thể thảo luận về việc thực hành của
mình.
Giọng nam: Con có câu hỏi. Với Ānāpānasati, thiền niệm
hơi thở, Ngài lấy thở vào và thở ra làm đối tượng. Vậy Ngài có thể phân biệt nó
với phương pháp của Hòa Thượng Mahasi, vì Ngài có thể đã hành cả hai cách rồi,
cả cách để ý hơi thở tại đây và cách để ý hơi thở vào và hơi thở ra. Vậy kính
thưa Ngài có thể phân biệt sự khác nhau giữa 2 phương pháp này trên con đường
đến Niết Bàn, và gì là ưu điểm của phương pháp mà Ngài đang dạy ạ?
Sayadaw: (cười) Có lẽ câu hỏi này không hay. Chúng ta
không nên điều tra về các phương pháp khác. Nhưng theo Thanh Tịnh Đạo và các
Chú giải khác, quý vị nên tập trung vào chỉ vào đối tượng hơi thở mà thôi, hơi
thở đó phải ở nơi lỗ mũi hay trên đỉnh môi trên. “Nāsikāka” và “mukha nimitta”,
đây được ấn định trong Chú giải. “Nāsikāka” là lỗ mũi, “mukha nimitta” là đỉnh
môi trên, chỉ tại điểm này thôi, quý vị nên chờ và thấy đối tượng hơi thở của
mình. Lúc ấy, với người mới bắt đầu, lỗ mũi được gọi là Nimitta, đỉnh môi trên
cũng được gọi là Nimitta, đây là đối với người mới bắt đầu trước khi họ có thể
thấy màu khói xám. Tại Nimitta này, quý vị nên đợi và thấy hơi thở. Khi tập
trung vào đối tượng hơi thở, lúc ấy quý vị có thể đạt đến các bậc thiền của
niệm hơi thở. Còn khi tập trung ở vùng bụng, quý vị không thể thấy được hơi
thở, quý vị chỉ có thể chỉ thấy sự chuyển động, hoặc có thể là sự chuyển động
hoặc khi quý vị chú tâm vào tứ đại, quý vị có thể thấy vùng này toàn tứ đại.
Quý vị không thể thấy hơi thở ở đây. Quý vị có thấy không? Không?
Đúng vậy, nếu không thể thấy hơi thở, quý vị không thể đạt đến bậc thiền
của Niệm hơi thở. Quý vị có thể thấy ở đây toàn tứ đại. Nếu thực hành thiền tứ
đại, quý vị không chỉ nên gắng biết rõ tứ đại tại một chỗ mà phải khắp toàn
thân. Đấy là hệ thống thiền tứ đại. Vì nếu thực hành thiền tứ đại một cách có
hệ thống, quý vị có thể chứng ngộ Niết Bàn. Nhưng nếu thực hành thiền tứ đại
theo cách sai lầm, không đúng phương pháp, quý vị không thể chứng ngộ Niết Bàn
được. Nhưng khi thực hành thiền niệm hơi thở, nếu tập trung vào đối tượng hơi
thở trên lỗ mũi hay trên đỉnh môi trên, lúc Nimitta xuất hiện, quý vị có thể
đạt đến sơ thiền, nhị thiền, tam, tứ thiền. Dựa vào thiền này, nếu thực hành
thiền tứ đại, quý vị có thể biết rõ tứ đại khắp thân mình. Tại sao? Vì tâm định
như thế có thể sinh ra ánh sáng cực mạnh. Ví dụ như, sáng nay có một hành giả
cũng hỏi tôi về điều này. Không có thiền chứng, vào thời Đức Phật, rất nhiều
trưởng lão hay nhiều vị tỳ kheo vẫn chứng ngộ NB, người đã trở thành các vị
A-la-hán, chúng ta gọi là các vị A-la-hán theo thuần quán thừa, Suddhavipassaka
Arahat;. Suddhavipassaka có nơi dịch sang là Thuần Quán hay Quán Khô.
Nếu vậy tại sao chúng ta lại thực hành Ānāpāna để đạt đến tứ thiền?
(cười). Sơ thiền cũng có thể, nhị thiền cũng có thể, tam thiền, tứ thiền cũng
có thể là nhân hổ trợ, nhân hỗ trợ cho Vipassanā, thiền Minh Sát. Sơ thiền cũng
có thể là nhân hỗ trợ cho Vipassanā, nhị thiền cũng có thể là nhân hỗ trợ cho
Vipassanā, tam thiền, tứ thiền cũng có thể là nhân hỗ trợ cho Vipassanā.
Nhân hỗ trợ là gì? Định của bậc thiền (an chỉ định) có thể sinh ra một
thứ ánh sáng cực mạnh: sơ thiền cũng có thể sinh ra ánh sáng cực mạnh, nhị
thiền cũng có thể sinh ra một ánh sáng cực mạnh, nhưng độ sáng khác nhau, ví
dụ: mặt trời có thể chiếu sáng, mặt trăng cũng có thể chiếu sáng, ngôi sao cũng
sáng, nến sáng và bóng đèn cũng tạo ra ánh sáng, nhưng độ sáng không giống
nhau. Vào ban ngày, khi mặt trời chói chang, quý vị có thể thấy mọi vật rõ hơn,
nhưng khi ban đêm, khi có trăng, nếu quý vị để ý xung quanh, quý vị không thể
thấy rõ ràng như ban ngày, không rõ ràng lắm. Cũng tương tự vậy, sơ thiền có
thể sinh ra ánh sáng, điều này là đúng. Nhưng định tứ thiền, ánh sáng của tứ
thiền rất mạnh và rất sáng. Vì nguyên nhân này, thời xưa họ thường thực hành
đến tứ thiền.
Dựa vào tứ thiền hay có thể bát thiền, nếu thực hành thiền tứ đại một
cách hệ thống, họ có thể biết rõ được danh và sắc chân đế, cả bên trong lẫn bên
ngoài. Nếu có thể biết rõ được danh và sắc chân đế, cả bên trong lẫn bên ngoài,
lúc ấy nếu trực nhận duyên khởi (paticca samudaya), họ có thể hiểu rõ ràng về
duyên khởi. Bởi vì khi thực hành phần duyên khởi, họ phải tìm các nhân quá khứ.
Các nhân quá khứ cho các quả hiện tại, các nhân hiện tại cho các quả tương lai.
Khi họ tìm các nhân quá khứ, lúc ấy ánh sáng trí tuệ rất cần thiết. Khi ánh
sáng trí tuệ không đủ, họ không thể thấy được các nhân quá khứ, cũng vậy với
các nhân tương lai. Vì nguyên nhân này, thông thường chúng tôi dạy thiền chứng
đến tứ thiền hay bát thiền. Dựa vào thiền chứng này, nếu thực hành thiền tứ đại
một cách có hệ thống, họ có thể thấy rõ danh và sắc chân đế và các nhân của
chúng.
Danh và sắc chân đế là Sự thật tối thượng về Khổ, các pháp Khổ đế,
Dukkhasacca; các nhân của chúng là nguyên nhân của Khổ, SamudayaSacca, là Sự
thật tối thượng về nguồn gốc của khổ (hay Khổ tập). Hai Sự thật tối thượng này
là các đối tượng của Vipassanā, chúng được gọi là “Saṅkhāra”, các Hành. Các hành này,
quý vị phải quán các hành này là vô thường, khổ và vô ngã. Ngay khi chúng vừa
sanh lên, liền diệt đi rất rất nhanh vì thế chúng là vô thường. Chúng luôn bị
đàn áp bởi việc sinh và diệt nên chúng là khổ. Không có thực thể thường hằng
hay sự tồn tại thường hằng trong chúng nên chúng được gọi là vô ngã. Nếu quý vị
quán các hành này là vô thường, khổ và vô ngã, loại quán sát này là Vipassanā.
Vì thế, để đạt đến loại quán sát này, ánh sáng trí tuệ cực mạnh là rất cần
thiết.
Giọng nữ: Thưa Ngài, Biến xứ trắng (Kasiṇa trắng) là tương đương với thiền
chứng nào ạ? Biến xứ trắng là bằng với bậc thiền nào ạ?
Sayadaw: Biến xứ trắng cũng vậy, nếu thực hành một
cách hệ thống, có thể đạt đến tứ thiền. Nhưng nếu quý vị có thể thực hành 10
Biến xứ lên đến tứ thiền, quý vị có thể dựa vào tứ thiền này để đi vào các bậc
thiền vô sắc, nó là có thể, quý vị có thể đạt đến bát thiền, 8 loại thiền.
Giọng nữ: Thưa Ngài, chúng ta có thể thực hành Biến xứ
trắng để có sơ thiền ạ?
Sayadaw: Biến xứ trắng, có thể đạt đến sơ thiền, nhị
thiền, tam thiền, tứ thiền.
Giọng nữ: Con muốn hiểu về sự khác nhau giữa các giai
đoạn ạ. Con muốn hiểu sự khác nhau giữa giai đoạn 3 của Niệm hơi thở với giai
đoạn 1 và 2, vì giai đoạn 3 kinh nghiệm trọn vẹn hơi thở, còn giai đoạn 1 là
hơi thở dài và giai đoạn 2 là hơi thở ngắn. Nếu không kinh nghiệm trọn vẹn hơi
thở, làm sao Ngài đánh giá nó là dài hay ngắn ạ?
Sayadaw: Khi đang tập trung vào đối tượng hơi thở của
mình tại vị trí điểm chạm, từ lúc bắt đầu, đây bắt đầu, đây kết thúc, từ lúc
bắt đầu (đầu) cho đến kết thúc (cuối), nếu quý vị có thể ghi nhận hơi thở như
thế, đây được gọi là trọn vẹn (hay toàn bộ) hơi thở. Khi trực nhận hoặc tập
trung vào trọn vẹn hơi thở, có lúc quý vị có thể thở chậm, hơi thở chậm ấy gọi
là hơi thở dài; khi hơi thở dài, quý vị chỉ nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi
thở. Có lúc quý vị có thể thở nhanh, hơi thở nhanh ấy gọi là hơi thở ngắn, khi
hơi thở ngắn, quý vị nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở mà thôi. Quý vị
hiểu chứ?
Giọng nữ: Được rồi ạ. Vậy là giai đoạn đầu, hơi thở
dài.
Sayadaw: Có lẽ theo thứ tự lời dạy, Đức Phật dạy hơi
thở dài trước, rồi đến hơi thở ngắn, rồi đến trọn vẹn hơi thở, nhưng khi vào
thực hành thực tế, chúng ta không thể nói: “Luôn luôn hơi thở dài phải là bước
1”, cũng như chúng ta không thể nói: “Hơi thở ngắn luôn phải là bước 2.” Có lúc
quý vị thở chậm nguyên cả thời ngồi, không sao cả. Có lúc khi định phát triển,
quý vị có thể thở chậm suốt cả thời ngồi, như thế cũng tốt, lúc ấy, quý vị nên
gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở. Nhưng lúc khác quý vị có thể thở nhanh, lúc
ấy quý vị cũng nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở chỉ tại một chỗ thôi.
Giọng nam: Nếu vậy có nghĩa Ngài phải niệm trong tâm:
đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn kết thúc khi hơi thở đi vào, Ngài chỉ quán sát hay
chỉ ghi nhận..?
Sayadaw: Chỉ ghi nhận thôi. Chỉ ghi nhận là cần thiết.
Không cần phải niệm “đây là đoạn đầu”, “đây là đoạn giữa”, “đây là đoạn cuối”
hay “đây là hơi thở dài”, “đây là hơi thở ngắn”. Vì sao? Nếu niệm như thế, định
của quý vị sẽ thoái giảm, Dù nó là dài hay ngắn, nếu quý vị hay biết hơi thở
một cách liên tục không gián đoạn, vậy là đủ tốt rồi, vậy là đủ rồi. “Đủ” nghĩa
là quý vị có thể tập trung được tốt. Nếu quý vị phân biệt xem đây là hơi thở
dài hay hơi thở ngắn, “có thể hơi này là dài, nhưng không thực sự dài”, “có lẽ
đây là hơi dài”, “hơi thở này có lẽ là ngắn”…theo cách này quý vị có thể điều
tra nhiều quá. Nếu điều tra nhiều quá, thì định sẽ giảm, đây là một nguyên
nhân. Nếu niệm: “đây là bắt đầu”, “đây là đoạn giữa”, “đây là kết thúc”, niệm
như thế rồi quý vị sẽ mệt và định của quý vị sẽ giảm. Vì thế trong 3 giai đoạn
này, hơi thở dài, hơi thở ngắn và trọn vẹn thân hơi thở, 3 giai đoạn này nếu
quý vị hay biết hơi thở liên tục không gián đoạn, là tốt rồi. Nếu muốn niệm,
quý vị chỉ cần niệm: “hơi thở vào” và “hơi thở ra” thôi. OK? Chưa hiểu à?
(cười). Ừ, có lẽ Cô ấy sẽ giải thích cho con bằng tiếng Hoa (cười).
Giọng nam: Con còn chưa chắc lắm. Con nghĩ mình hiểu,
nhưng con muốn kiểm tra thêm điều này. Điều khác nhau giữa hai giai đoạn đầu và
giai đoạn 3 có phải là, hai giai đoạn đầu Ngài muốn chúng con chỉ ghi nhận hơi
thở dài và hơi thở ngắn, nhưng trong giai đoạn 3 phải ghi nhận trọn vẹn hơi
thở. Như vậy trong hai giai đoạn đầu để thực hành đúng chúng con không cần biết
trọn vẹn hơi thở hay sao ạ?
Sayadaw: Nếu quý vị có thể hay biết hơi thở không gián
đoạn, rất tốt, ngay cả với giai đoạn 1 và giai đoạn 2 cũng vậy thì rất tốt.
Giọng nam: Thưa Ngài, trong việc thực hành để đạt đến
thiền chứng, chúng ta dùng đối tượng ấy là để chắc chắn tâm chúng ta trở nên
hợp nhất với đối tượng. Chính vậy mà có đến 40 đề mục để mình có thể lực chọn,
như Biến xứ trắng, v.v.. Nhưng mỗi đề mục thiền định lại có những đặc điểm
riêng của nó. Liệu có đúng chăng khi nói với Ānāpāna, thiền Niệm hơi thở, đặc
điểm của đối tượng là luôn luôn có “vào” và “ra”, vậy là nếu chúng ta có lúc
nào đó thắc mắc không biết liệu mình có đang có mất đối tượng hay không, chúng
ta chỉ phải ghi nhận xem “vào” và “ra” có đang còn đó hay không và rồi chúng ta
biết đây là “ra”, đối tượng của Ānāpāna? Xin cảm ơn Ngài. Còn nếu hy vọng được
chăng khi chúng ta trông mong rằng khi huân tập sự nhất tâm hay định tĩnh,
chúng ta còn trở nên tĩnh lặng cả bên trong lẫn bên ngoài khi di chuyển, đi
lại, nói năng sau những thời thiền tọa? Liệu chúng ta có thể trông đợi điều đó
không ạ? Không được ạ?
Sayadaw: (cười) Chúng ta không thể trông điều đó. Nếu
cố gắng thì tốt hơn, không vấn đề gì. Tự động thì không có thể.
Giọng nam: Ngài có nói về tâm có thể mạnh mẽ hơn khi
chúng ta trở nên tập trung hơn. Liệu chúng ta có thể nói rằng, tính kiên định
của tâm, tâm kiên cố như thế nào xét về độ sâu (từ này nghe không rõ, chỉ đóan)
tập trung và duy trì của định là tỉ lệ thuận với sức mạnh của tâm? Có nghĩa là
nếu chúng ta duy trì được sự tập trung trên đối tượng càng tốt thì tâm chúng ta
càng trở nên mạnh mẽ hơn? Có phải vậy không ạ? Vậy là toàn bộ quá trình phát triển
về cơ bản là để tăng cường sức mạnh cho tâm để mà với sức mạnh đó của tâm,
chúng ta có thể đi vào Vipassanā và có thể nắm bắt đối tượng mà chúng ta cần
phân tích được vững vàng hơn để thấy chúng rõ ràng hơn vì thường thì sự thay
đổi của đối tượng là quá nhanh, vì anicca, vô thường.. là quá xa với chúng ta
nếu không có đủ sức mạnh này của tâm để quán phải không ạ? Vậy còn ngày nay
người ta có nói về thuần quán thừa hành giả, hành giả thuần quán, họ chỉ phát
triển đến Upacāra,.. cận định. Vậy đây có phải là sức mạnh tối thiểu?
Sayadaw: Không phải vậy. Họ có đủ ba-la-mật. Vào thời
Đức Phật, ví dụ như các ngài Thánh tăng A-la-hán theo phương pháp thuần quán
Vipassaka Arahat, họ có đủ ba-la-mật, họ chỉ có ý định đạt đến A-la-hán thật
thật nhanh trước khi cái chết đang đến, họ không muốn phí thời gian, họ muốn
đạt đến A-la-hán thật nhanh vì ba-la-mật của họ đang thúc ép và khích lệ họ nổ
lực mạnh mẽ. Khi thực hành thuần quán thừa, họ bắt đầu với thiền tứ đại, ấy là
theo giải thích của Thanh Tịnh Đạo. Khi thực hành thiền tứ đại có hệ thống, đến
một lúc họ sẽ thấy các tổng hợp sắc (THS), là các hạt cực nhỏ. Thân thể chúng
ta bao gồm vô số các hạt cực nhỏ gọi là các Kalāpas, THS. Họ phải tiếp tục phân
biệt tứ đại trong mỗi THS này. Trong khi trực nhận tứ đại trong mỗi THS, nếu họ
có thể định trên đối tượng tứ đại ấy, đây là giai đoạn cuối của thiền định,
Samatha và cũng là giai đoạn bắt đầu của Vipassanā.
Vậy thiền tứ đại bao gồm cả hai: chỉ và quán, Samatha và Vipassanā. Rồi
họ phải tiếp tục phân biệt các sắc do tứ đại tạo thành (Sắc y đại sanh) như
màu, mùi, vị, dưỡng tố, v.v… Sau khi trực nhận các sắc chân đế, họ phải tiếp
tục danh chân đế và các nhân của chúng, duyên khởi rồi phải quán chúng là vô
thường, khổ và vô ngã. Trong lúc thực hành như vậy, bởi ba-la-mật đời trước mà
ánh sáng trí tuệ của họ rất mạnh. Khi hành thiền tứ đại, ánh sáng trí tuệ của
họ cũng rất mạnh. Nhờ đó mà họ có thể thấy rõ các nhân quá khứ. Các nhân quá
khứ cho các quả hiện tại, các nhân hiện tại cho các quả tương lai, họ có thể
phân biệt các nhân và các quả, quá khứ, hiện tại và tương lai. Nhờ vậy họ mới
có thể chứng ngộ A-la-hán.
Còn ngày nay (cười) một số hành giả có thể thực hành thiền tứ đại một
cách hệ thống, nếu thực hành, họ có thể chứng ngộ NB, còn số khác thì không dễ.
Không dễ nghĩa là, chẳng hạn như khi trực nhận các sắc chân đế, khi họ thấy các
THS, các THS của họ không rõ ràng lắm, đấy là một vấn đề, vì ánh sáng trí tuệ
của họ không mạnh. Khi họ trực nhận các sắc chân đế trong mỗi THS, họ không thể
phân tích một cách hoàn toàn và rõ ràng, đặc biệt là sắc mạng căn, rất khó để
họ phân biệt. Sắc mạng căn là gì? Trong mỗi THS có sự sống, đặc biệt là các sắc
do nghiệp sanh, có sắc mạng căn. Họ không thể phân biệt được sắc mạng căn trong
2 hay 3 ngày, có thiền sinh không thể thấy rõ sắc mạng căn này trong gần 1
tuần.
Tương tự vậy, dưỡng tố: trong THS có dưỡng tố, dưỡng tố này có thể sinh
ra THS mới khi có sự hỗ trợ của sức nóng tiêu hóa thức ăn lên dưỡng tố này và
khi có sự hỗ trợ từ dưỡng tố có trong các THS do vật thực sanh. Lúc ấy họ cũng
không thể thấy được dưỡng tố này một cách rõ ràng. Tương tự vậy, sắc tánh, sắc
quyết định nam tánh hay nữ tánh. Khi nhìn một người, quý vị có thể phân biệt
đây là đàn ông hay đàn bà. Tại sao? Ấy là nhờ sắc tánh, sắc tánh phân biệt được
đây là nam, đây là nữ. Theo lời dạy của Đức Phật, sắc tánh có mặt ở cả 6 căn,
khắp nơi trong thân. Vì nguyên nhân này, khi họ nhìn một người, họ có thể dễ
dàng phân biệt được, đây là đàn bà, đây là đàn ông là nhờ sắc tính này. Sắc
tính này cũng có trong một số THS, các THS có mặt khắp nơi trong cơ thể. Sắc
tính này cũng khó mà trực nhận được khi ánh sáng trí tuệ không được mạnh. Khó
hơn nữa là duyên khởi khi quý vị chú ý đến danh sắc đời trước. Khi danh sắc
hiện tại không rõ, rồi nếu muốn trực nhận danh sắc nhiều đời trước nữa, họ
không thể thấy rõ được. Bởi nguyên nhân này, ngày nay một số hành giả có thể
thực hành trọn vẹn thiền tứ đại một cách hệ thống cho đến chứng ngộ NB, nhưng
số khác thì không thể. Chính vì vậy, chúng tôi còn dạy cả thiền định Samatha.
Giọng nam: Thưa Ngài, hầu hết mọi người thậm chí không
dám mơ đến thấy các THS..
Sayadaw: Hả?
Giọng nam: Hầu hết mọi người không dám mơ đến việc thấy
các THS vì họ chưa bao giờ thực hành đủ mức định để thấy bất kỳ thứ gì. Vì vậy
đâu là mức rèn luyện thiền chỉ Samatha tối thiểu cho phép một người bắt đầu
thấy được các THS ạ?
Sayadaw: Có lẽ thông thường thì tứ thiền. Tứ thiền là
cần thiết. Nhưng với một số hành giả, sơ thiền cũng có thể rồi nhưng chúng ta
không thể đọc được tâm của người khác. Vì lý do này, chúng ta không thể nói một
cách chính xác người nào nên hành đến bậc thiền nào, hay người này nên hành đến
nhị thiền, hay người này nên hành đến tam thiền hay người này nên hành đến tứ
thiền.. Theo cách này chúng ta không thể quyết định vì chúng ta không thể đọc được
tâm của người khác. Vì lý do này, phần lớn tiêu chí của chúng tôi là dạy đến
giai đoạn tứ thiền. Nếu họ muốn thực hành thiền biến xứ, lúc đó chúng tôi dạy
họ 10 biến xứ và bát thiền, 8 thiền chứng.
Giọng nam: Điều đó đưa con về lại câu hỏi ban đầu, vì một
số người nghĩ rằng tất cả những gì mà họ cần huân tập cho đủ là cận định mà
không cần đi đến sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Phần lớn họ không
thấy các THS, mà không thấy các THS làm cách nào họ có thể đi vào Vipassanā để
thấy sự sanh lên và diệt đi, vốn là nguyên nhân của khổ. Vậy nên câu hỏi của
con là khi mọi người nói bạn có thể, tất cả những gì bạn cần là phát triển cho
đến cận định và đấy là tất cả những gì bạn cần. Câu hỏi của con là có phải như
thế không ạ?
Sayadaw: Đối với một số hành giả, cận định có thể là
nhân hỗ trợ cho họ thực hành Vipassanā, điều này OK. Nhưng đối với số khác thì
không OK.
Giọng nam: Còn hầu hết những người mà Ngài nghĩ họ không
có ba-la-mật quá khứ, đấy chỉ là giấc mơ ạ?
Sayadaw: Đúng vậy, không dễ.
Giọng nam: Con xin lỗi, cho con có một câu hỏi nữa. Khi
nhìn một người như là đàn bà, hay đàn ông, Ngài vừa đề cập đến một loại sắc cho
phép phân biệt đây là một người, còn đây là v.v.. Trong một số bài viết, nó
được mô tả như là một khối, do mình nhìn toàn bộ một con người như một khối, và
đấy là một sự ảo tưởng lớn vì nó khiến cho luân hồi còn chắc chắn hơn, phải
không ạ?
Sayadaw: Có lẽ vậy.
Giọng nam: Vậy nên chúng ta cố gắng để phá vỡ khối kết
này để thấy chúng không phải là một người, đây là một bó các THS sanh lên, các
THS đang chết đi?
Sayadaw: Không phải THS, có lẽ chúng ta gọi là các sắc
chân đế và các danh chân đế.
Giọng nam: Vâng ạ. Ngài có thể nói cách khác được chăng
là do bởi tâm chúng ta quá phân tán và mất đi sức mạnh của nó, không thể có
định để thấy rõ ràng. Đấy là một phần của Si ạ? Và chính cái Si này khiến chúng
ta thấy các vật như là một cục, một thực thể, một con người chẳng hạn, đây cũng
là khối và vì thế theo cách nhìn ấy, chúng ta luôn thấy một khu rừng, chứ không
phải cây. Vậy có phải chúng ta đang cố gắng nhìn thấy rừng sâu hơn để mà có thể
thấy được các cây. Khi thấy các cây, chúng ta có thể thấy đây không thực sự là
rừng sâu hơn một khu rừng, nó không phải thực sự là rừng và chúng ta phá được
Si và có thể giúp mình thoát khỏi Si? Liệu chúng ta có thể nói như thế chăng?
Hay đại loại như thế chăng?
Sayadaw: Chỉ bằng cách thấy danh sắc chân đế, quý vị
không thể thoát khỏi luân hồi. Quý vị phải cố gắng chứng ngộ NB và liểu tri
được Bốn Sự Thật tối thượng.
Giọng nam: Cảm ơn Ngài ạ.
Giọng nam: Thưa Ngài, con xin có câu hỏi. Lúc thực hành
thiền tứ đại, (đến vài từ nghe không ra đoạn này), có kinh nghiệm một hình ảnh,
hình ảnh xuất hiện như một khung hình. Đấy là gì ạ?
Sayadaw: Nếu thực hành tứ đại, đối với người mới bắt
đầu, khi định phát triển, họ không thể thấy thân hình, họ chỉ có thể thấy một
nhóm…